(Brahmajāla Sutta, Dīgha Nikāya I.1)
62 tà kiến gồm 18 tà kiến liên quan đến quá khứ (trường tồn, nửa trường tồn, quanh co, giới hạn, vô hạn và không có nguyên nhân) và 44 liên quan đến tương lai (có hay không có tâm thức sau khi chết, đoạn tuyệt… chủ yếu liên quan Phạm thiên).
18 TÀ KIẾN LIÊN QUAN ĐẾN QUÁ KHỨ:
Này các tỳ khưu, một số đạo sĩ và bà la môn suy diễn về quá khứ và chấp vào những tà kiến (do suy diễn) này qua 18 cách. Dựa vào đâu họ làm như thế?
THUYẾT TRƯỜNG TỒN – SASSATA DIṬTHI:
Một số đạo sĩ và bà la môn tin vào sự trường tồn, cho rằng linh hồn và thế giới này tồn tại vĩnh viễn qua bốn cách. Dựa vào đâu bốn tà kiến này ra đời?
- Ở đây, vị đạo sĩ hay bà la môn có được định tâm nhờ nỗ lực, dốc sức, tinh tấn, hướng tâm chân chánh. Với định tâm, vị ấy có thể nhớ lại nhiều kiếp quá khứ của mình: 1 kiếp, 2 kiếp, 3 kiếp, 4 kiếp, 5 kiếp, 10 kiếp, 100 kiếp, 1.000 kiếp, 100.000 kiếp, vài trăm ngàn kiếp, vài triệu kiếp, vài tỷ kiếp. Vị ấy nhớ rằng: “Tại nơi đó, tôi tên là…, thuộc dòng họ…, giai cấp…, kinh nghiệm vui buồn như thế này… Tôi sống rất lâu. Và sau qua đời tại đó, tôi sinh ra tại… Tại nơi đó, tôi tên là…, tôi thuộc dòng họ…, giai cấp…, kinh nghiệm vui buồn như thế này… Sau khi qua đời tại đó, tôi sinh ra nơi đây.” Vì nhớ nhiều kiếp sống chi tiết như thế, vị này tuyên bố rằng:
“Linh hồn và thế giới trường tồn vĩnh viễn, bất biến (vững chắc) như ngọn núi, như cột trụ. Dù các chúng sinh quẩn quanh, qua đời nơi này rồi tái sinh nơi khác, nhưng linh hồn và thế giới trường tồn vĩnh viễn. Vì sao? Vì tôi có được định tâm nhờ nỗ lực, dốc sức, tinh tấn, hướng tâm chân chánh, có thể nhớ lại nhiều kiếp quá khứ của mình… Do vậy, tôi biết linh hồn và thế giới trường tồn vĩnh viễn.”
Đây là lý do, cách thức đầu tiên khiến một số đạo sĩ và bà la môn tuyên bố rằng linh hồn và thế giới này trường tồn vĩnh viễn.
- Ở đây, vị đạo sĩ hay bà la môn có được định tâm nhờ nỗ lực, dốc sức, tinh tấn, hướng tâm chân chánh. Với định tâm, vị ấy có thể nhớ lại các kiếp quá khứ trong (khoảng thời gian) một đại kiếp từ lúc thế giới thu nhỏ (vivattakappa) đến lúc thế giới mở rộng (saṁvattakappa), hai đại kiếp… ba đại kiếp… bốn đại kiếp… năm đại kiếp… mười đại kiếp từ lúc thế giới thu nhỏ đến lúc thế giới mở rộng. Vị ấy nhớ rằng: “Tại nơi đó, tôi tên là…” Đây là cách thức thứ hai khiến một số đạo sĩ và bà la môn tuyên bố rằng linh hồn và thế giới này trường tồn vĩnh viễn.
- Ở đây, vị đạo sĩ hay bà la môn có được định tâm nhờ nỗ lực, dốc sức, tinh tấn, hướng tâm chân chánh. Với định tâm, vị ấy có thể nhớ lại các kiếp quá khứ trong 10 đại kiếp… hai mươi… ba mươi… bốn mươi đại kiếp… từ lúc thế giới thu nhỏ đến lúc thế giới mở rộng. Vị ấy nhớ rằng: “Tại nơi đó, tôi tên là…” Đây là cách thức thứ ba khiến một số đạo sĩ và bà la môn tuyên bố rằng linh hồn và thế giới này trường tồn vĩnh viễn.
- Ở đây, vị đạo sĩ hay bà la môn là nhà lô gíc, lý luận. Từ những suy luận cá nhân, vị này cho rằng: “Linh hồn và thế giới trường tồn vĩnh viễn, bất biến (vững chắc) như ngọn núi, như cột trụ. Dù các chúng sinh quẩn quanh, qua đời nơi này rồi tái sinh nơi khác, nhưng linh hồn và thế giới trường tồn vĩnh viễn.”1Theo Chú giải, nhà lô gíc lý luận gồm 4 loại: Anussutika là ngưòi cho rằng Tiền thân Đức Phật là con voi Vesantara và giờ đây thành Phật, thi phải có linh hồn truờng tồn; Jātissara takkika là người nhớ một số kiếp quá khứ của mình nên cho rằng linh hồn này không chết mà trường tồn; lābhī takkika là người cho rằng kiếp quá khứ và tương lai của mình ắt hạnh phúc vì kiếp này mình hạnh phúc; suddha takkika là người suy diện rằng: Nếu cái này tồn tại thì cái kia tồn tại. Họ tìm ra bằng chứng cho lý luận của họ rằng: “Nếu như có cái gì thay đổi vô thường, thì tạo nghiệp là một người và lãnh quả là một người khác. Vậy thì nghiệp đã tạo phải bị hủy hoại và người ta gánh nghiệp mà mình không tạo. Nhưng vì mọi thứ là trường tồn nên người tạo nghiệp cũng là người lãnh nghiệp, không có sự lầm lẫn sai sót được.”
Một số đạo sĩ và bà la môn tin vào sự trường tồn, tuyên bố rằng linh hồn và thế giới này tồn tại vĩnh viễn qua bốn cách trên. Dù họ tuyên bố ra sao, tuyên bố của họ rơi vào một trong bốn cách như thế, và không còn cách thức nào khác.
Này các tỳ khưu, Như Lai cũng hiểu rằng: Suy diễn sai lầm và chấp chặt vào những tà kiến như thế sẽ đưa đến tái sinh cõi này hay cõi khác. Không những hiểu rõ các tà kiến này, Như Lai còn hiểu các pháp cao thượng hơn. Ta thấy hiểu rõ các pháp này và sự hiểu biết này không bị sai lạc. Nhưng Như Lai không dính mắc (na parāmasati) vào loại hiểu biết này và do vậy, kinh nghiệm sự tĩnh lặng. Hiểu rõ nguyên nhân phát sinh của cảm thọ, sự ngưng nghỉ của cảm thọ, sự thỏa thích nơi cảm thọ, hiểm nguy nơi cảm thọ và sự giải thoát khỏi cảm thọ đúng như nó là vậy, Như Lai thoát khỏi mọi tham ái.
Này tỳ khưu, các pháp này thật vi diệu thâm sâu, khó nhận thấy, khó lĩnh hội, là pháp tĩnh lặng, cao thượng, vượt lên mọi suy đoán, vi tế và chỉ các bậc trí mới thấu hiểu. Với trí tuệ thượng thừa của Bậc Toàn Giác (sabbaññuta ñāṇa), Ta thấy hiểu rõ các pháp này và tuyên bố trước thế gian (những gì Ta thấy hiểu rõ). Những ai thực sự tôn kính Như Lai nên nói về các pháp cao thượng này một cách đúng đắn như thế.
THUYẾT TRƯỜNG TỒN MỘT PHẦN – EKACCA SASSATA DIṬTHI:
Một số đạo sĩ và bà la môn vừa tin vào thuyết trường tồn vừa tin vào thuyết đoạn diệt. Họ cho rằng một phần linh hồn và thế giới này trường tồn và một phần linh hồn và thế giới này đoạn diệt qua bốn cách. Dựa vào đâu bốn tà kiến này ra đời?
- Sớm hay muộn gì, sẽ đến lúc hệ thống thế giới này rơi vào thời kỳ bị hũy hoại và thu nhỏ (saṁvattakappa) sau một thời gian dài vô tận.2Hệ thống thế giới này trải qua nhiều chu kỳ hình thành mở rộng và bị hũy hoại thu nhỏ như thế. Lúc ấy, hầu hết chúng sinh trú ở cõi Sắc giới Ābhassara3Cõi thứ ba trong ba cõi Nhị thiền. do phát triển tâm thiền, duy trì cuộc sống bằng hỷ lạc (pīti), có thân sắc sáng ngời và di chuyển nhẹ nhàng trong không trung. Họ sống như thế trong một thời gian dài.
Và đến lúc thế giới này mở ra, lớn rộng (vivattakappa), cõi Phạm thiên4Một trong ba cõi Nhất thiền. xuất hiện, trống vắng (chưa có chúng sinh). Lúc này, một vị Phạm thiên hết tuổi thọ ở cõi Ābhassara rơi xuống (tái sinh vào) nơi này, do nghiệp lực tái sinh cạn hay do phước báu sinh vào cõi Ābhassara đã hết. Tái sinh vào đây do tâm (nhất) thiền, vị này duy trì cuộc sống bằng hỷ lạc (pīti), thân sắc sáng ngời và di chuyển nhẹ nhàng trong không trung. Vị này sống như thế trong thời gian dài.
- Rồi vị này thất vọng, lo lắng, nghĩ rằng: “Ước gì các chúng sinh khác đến đây.” Khi ấy, các Phạm thiên hết tuổi thọ ở cõi Ābhassara cũng rơi xuống nơi này. Họ tái sinh vào đây do tâm (nhất) thiền, duy trì cuộc sống bằng hỷ lạc (pīti), thân sắc sáng ngời và di chuyển nhẹ nhàng trong không trung. Họ sống như thế trong một thời gian dài.
Và vị Phạm thiên đầu tiên chợt nghĩ: “Ta là Phạm thiên, Đại Phạm thiên, người chinh phục và không bị chinh phục, là người thấy rõ, có quyền năng, là thống lĩnh, đấng tạo hóa, người hành thiền phát triển quang tướng, là cha của chúng sinh đã ra đời và sẽ ra đời. Vì khi ta khởi nghĩ: “Ước gì các chúng sinh khác đến đây”, các chúng sinh này ra đời. Trong khi đó, các vị Phạm thiên sinh sau nghĩ rằng: “Đây là vị Phạm thiên, Đại Phạm thiên, người chinh phục và không bị chinh phục, là người thấy rõ, có quyền năng, là thống lĩnh, đấng tạo hóa, người hành thiền phát triển quang tướng, là cha của chúng sinh đã ra đời và sẽ ra đời. Vì sao? Vì chúng ta thấy vị này đến đây trước và chúng ta sinh ra sau đó.”
Vị Phạm thiên đầu tiên sống lâu, đẹp đẽ và oai lực hơn các vị khác nơi đó. Sau một thời gian, một số Phạm thiên từ cõi đó rơi vào cõi (người) này, sống đời đạo sĩ không nhà. Vị này có được định tâm nhờ nỗ lực, dốc sức, tinh tấn, hướng tâm chân chánh, có thể nhớ lại một kiếp quá khứ vừa qua của mình (ở cõi Phạm thiên trên). Nhớ lại kiếp quá khứ, vị này suy diễn rằng: “Vị Đại Phạm thiên đáng kính đó tạo ra chúng ta và vị ấy sống vĩnh viễn. Do vị ấy tạo ra, nhưng chúng ta không tồn tại vĩnh cữu, không thường còn, không vững vàng, có kiếp sống ngắn ngủi và rơi xuống đây.” Đây là cách thức thứ nhất khiến một số đạo sĩ và bà la môn vừa tin vào thuyết trường tồn vừa tin vào thuyết đoạn diệt.
- Khi các chư thiên Khiddapadosika mãi mê vui chơi, đắm chìm trong ngũ dục đến mức quên cả ăn uống, họ qua đời ở cõi này. Sinh vào cõi người, một số họ sống đời đạo sĩ không nhà. Vị này phát triển định tâm nhờ nỗ lực, dốc sức, tinh tấn, hướng tâm chân chánh và có thể nhớ lại một kiếp quá khứ của mình (ở cõi chư thiên trên). Do vậy, vị này suy diễn rằng: “Không quá mãi mê vui chơi, đắm chìm trong ngũ dục, các chư thiên Khiddapadosika đáng kính không quên ăn uống, và do vậy, họ không qua đời. Nhưng chúng ta, khi còn là chư thiên Khiddapadosika, mãi mê vui chơi, đắm chìm trong ngũ dục đến mức quên cả ăn uống, cho nên qua đời ở cõi đó. Chúng ta không tồn tại vĩnh cữu, không thường còn, không vững vàng, có kiếp sống ngắn ngủi và rơi xuống đây.” Đây là cách thức thứ hai khiến một số đạo sĩ và bà la môn vừa tin vào thuyết trường tồn vừa tin vào thuyết đoạn diệt.
- Các chư thiên Manopadosika sống tại cõi Tứ Đại Thiên Vương. Nơi đây, có một điều kỳ lạ là khi một chư thiên tại đây giận dữ nhưng các chư thiên khác vẫn điềm tĩnh, thì chư thiên đang giận dữ sẽ không qua đời (vì cơn giận dữ của mình). Về căn bản, các chư thiên này chẳng khác các chư thiên Khiddapadosika, ngoại trừ bản tính nhìn chằm chằm vào chư thiên khác khi khởi tâm ganh tỵ. Nhìn chằm chằm vào chư thiên khác vì ganh tỵ trong một thời gian dài, sân hận khởi sinh trong tâm sẽ khiến các vị này qua đời.
Khi sinh vào cõi người, một số họ sống đời đạo sĩ không nhà. Với định tâm nhờ nỗ lực, dốc sức, tinh tấn, hướng tâm chân chánh, các vị này có thể nhớ lại một kiếp quá khứ của mình (ở cõi chư thiên trên). Do vậy, họ suy diễn rằng: “Không nhìn chằm chằm vào chư thiên khác vì ganh tỵ trong một thời gian dài, do vậy sân hận không khởi sinh trong tâm các chư thiên Manopadosika đáng kính. Nhưng khi còn là chư thiên Manopadosika, chúng ta nhìn chằm chằm vào chư thiên khác vì ganh tỵ trong một thời gian dài, do vậy sân hận khởi sinh trong tâm khiến chúng ta qua đời. Chúng ta không tồn tại vĩnh cữu, không thường còn, không vững vàng, có kiếp sống ngắn ngủi và rơi xuống đây.” Đây là cách thức thứ ba khiến một số đạo sĩ và bà la môn vừa tin vào thuyết trường tồn vừa tin vào thuyết đoạn diệt.
- Trong thế giới này có các vị đạo sĩ và bà la môn là nhà lô gíc, lý luận. Từ những suy luận cá nhân, họ cho rằng: “Cái gọi là mắt, tai, mũi, lưỡi và thân là linh hồn vốn không vững vàng, có bản tính đổi thay, không tồn tại vĩnh viễn. Nhưng cái gọi là tâm tồn tại vĩnh viễn, vững vàng và không đổi thay.” Đây là cách thức thứ tư khiến một số đạo sĩ và bà la môn vừa tin vào thuyết trường tồn vừa tin vào thuyết đoạn diệt.
Một số đạo sĩ và bà la môn vừa tin vào thuyết trường tồn vừa tin vào thuyết đoạn diệt, tuyên bố rằng linh hồn và thế giới này vừa trường tồn vừa đoạn diệt qua bốn cách trên. Dù họ tuyên bố ra sao, tuyên bố của họ rơi vào một trong bốn cách như thế, và không còn cách thức nào khác.
Này các tỳ khưu, Như Lai cũng hiểu rằng: Suy diễn sai lầm và chấp chặt vào những tà kiến như thế sẽ đưa đến tái sinh cõi này hay cõi khác. Không những hiểu rõ các tà kiến này, Như Lai còn hiểu các pháp cao thượng hơn. Ta thấy hiểu rõ các pháp này và sự hiểu biết này không bị sai lạc. Nhưng Như Lai không dính mắc vào loại hiểu biết này và do vậy, kinh nghiệm sự tĩnh lặng. Hiểu rõ nguyên nhân phát sinh của cảm thọ, sự ngưng nghỉ của cảm thọ, sự thỏa thích nơi cảm thọ, hiểm nguy nơi cảm thọ và sự giải thoát khỏi cảm thọ đúng như nó là vậy, Như Lai thoát khỏi mọi tham ái.
Này tỳ khưu, các pháp này thật vi diệu thâm sâu, khó nhận thấy, khó lĩnh hội, là pháp tĩnh lặng, cao thượng, vượt lên mọi suy đoán, vi tế và chỉ các bậc trí mới thấu hiểu. Với trí tuệ thượng thừa, Ta thấy hiểu rõ các pháp này và tuyên bố trước thế gian (những gì Ta thấy hiểu rõ). Những ai thực sự tôn kính Như Lai nên nói về các pháp cao thượng này một cách đúng đắn như thế.
THẾ GIỚI VÔ HẠN VÀ CÓ HẠN – ANTĀNATA DIṬṬHI:
Một số đạo sĩ và bà la môn cho rằng thế giới này giới hạn và số khác cho rằng thế giới này vô hạn, vô tận qua bốn cách. Dựa vào đâu bốn tà kiến này ra đời?
- Trong thế giới này có các vị đạo sĩ và bà la môn có được định tâm nhờ tinh tấn, nỗ lực, dốc lòng tu tập, không dễ duôi và hướng tâm chân chánh. Vị ấy sống với định tâm mạnh mẽ như thế, cho rằng thế giới này có giới hạn.5Dựa vào kinh nghiệm thiền Định lấy dĩa đất kasina làm đề mục, vị này thấy quang tướng nimitta nhỏ và giới hạn (vì việc tu tập chưa phát triển cao). Do vậy, vị này suy diễn như thế. Và vị ấy tuyên bố rằng: “Thế giới này có giới hạn, bị hạn chế. Vì sao? Vì với định tâm mạnh mẽ có được nhờ tinh tấn, nỗ lực, dốc lòng tu tập, không dễ duôi và hướng tâm chân chánh, tôi thấy rằng thế giới này có giới hạn. Dựa vào kinh nghiệm cá nhân, tôi biết thế giới này có giới hạn, nó bị hạn chế.” Đây là cách thức thứ nhất khiến một số đạo sĩ và bà la môn cho rằng thế giới này có giới hạn trong khi số khác cho rằng thế giới là vô hạn, vô tận dựa theo quan điểm riêng.
- Trong thế giới này có các vị đạo sĩ và bà la môn có được định tâm nhờ tinh tấn, nỗ lực, dốc lòng tu tập, không dễ duôi và hướng tâm chân chánh. Vị ấy sống với định tâm mạnh mẽ như thế, cho rằng thế giới này là vô hạn.6Dựa vào kinh nghiệm thiền Định lấy dĩa đất kasina làm đề mục, vị này thấy quang tướng nimitta lớn và mở rộng (do tu tập tiến triển cao hơn). Do vậy, vị này suy diễn như thế. Và vị ấy tuyên bố rằng: “Thế giới này là vô hạn, vô tận, không bị hạn chế. Cho rằng thế giới này có giới hạn là sai lầm. Trong thực tế, thế giới này là vô hạn, vô tận. Vì sao? Vì với định tâm mạnh mẽ có được nhờ tinh tấn, nỗ lực, dốc lòng tu tập, không dễ duôi và hướng tâm chân chánh, tôi thấy rằng thế giới này là vô hạn, vô tận. Dựa vào kinh nghiệm cá nhân, tôi biết thế giới này là vô hạn, vô tận.” Đây là cách thức thứ hai khiến một số đạo sĩ và bà la môn cho rằng thế giới này có giới hạn trong khi số khác cho rằng thế giới là vô hạn, vô tận dựa theo quan điểm riêng.
- Trong thế giới này có các vị đạo sĩ và bà la môn có được định tâm tinh tấn, nỗ lực, dốc lòng tu tập, không dễ duôi và hướng tâm chân chánh. Vị ấy sống với định tâm mạnh mẽ như thế, cho rằng thế giới này có giới hạn theo chiều thẳng đứng và vô hạn theo chiều ngang (dựa vào kinh nghiệm thiền Định lấy dĩa đất kasina làm đề mục). Và vị ấy tuyên bố rằng: “Thế giới này vừa có giới hạn vừa vô hạn. Cho rằng thế giới này có giới hạn hoặc thế giới này vô hạn là sai lầm. Trong thực tế, thế giới này vừa có giới hạn vừa vô hạn. Vì sao? Vì với định tâm mạnh mẽ có được nhờ tinh tấn, nỗ lực, dốc lòng tu tập, không dễ duôi và hướng tâm chân chánh, tôi thấy rằng thế giới này có giới hạn theo chiều thẳng đứng và vô hạn theo chiều ngang. Dựa vào kinh nghiệm cá nhân, tôi biết thế giới này vừa giới hạn vừa vô hạn.” Đây là cách thức thứ ba khiến một số đạo sĩ và bà la môn cho rằng thế giới này có giới hạn trong khi số khác cho rằng thế giới là vô hạn, vô tận dựa theo quan điểm riêng.
- Trong thế giới này có các vị đạo sĩ và bà la môn nhà lô gíc, lý luận. Từ những suy luận cá nhân, vị này suy diễn rằng: “Thế giới này chẳng có giới hạn cũng chẳng vô hạn. Cho rằng thế giới này có giới hạn, hoặc vô hạn, hoặc vừa giới hạn vừa vô hạn là sai lầm. Trong thực tế, thế giới này chẳng có giới hạn cũng chẳng vô hạn.” Đây là cách thức thứ tư khiến một số đạo sĩ và bà la môn cho rằng thế giới này có giới hạn trong khi số khác cho rằng thế giới là vô hạn, vô tận dựa theo quan điểm riêng.
Một số đạo sĩ và bà la môn một số đạo sĩ và bà la môn cho rằng thế giới này có giới hạn trong khi số khác cho rằng thế giới là vô hạn, vô tận qua bốn cách trên. Dù họ tuyên bố ra sao, tuyên bố của họ rơi vào một trong bốn cách như thế, và không còn cách thức nào khác.
Này các tỳ khưu, Như Lai cũng hiểu rằng: Suy diễn sai lầm và chấp chặt vào những tà kiến như thế sẽ đưa đến tái sinh cõi này hay cõi khác. Không những hiểu rõ các tà kiến này, Như Lai còn hiểu các pháp cao thượng hơn. Ta thấy hiểu rõ các pháp này và sự hiểu biết này không bị sai lạc. Nhưng Như Lai không dính mắc vào loại hiểu biết này và do vậy, kinh nghiệm sự tĩnh lặng. Hiểu rõ nguyên nhân phát sinh của cảm thọ, sự ngưng nghỉ của cảm thọ, sự thỏa thích nơi cảm thọ, hiểm nguy nơi cảm thọ và sự giải thoát khỏi cảm thọ đúng như nó là vậy, Như Lai thoát khỏi mọi tham ái.
Này tỳ khưu, các pháp này thật vi diệu thâm sâu, khó nhận thấy, khó lĩnh hội, là pháp tĩnh lặng, cao thượng, vượt lên mọi suy đoán, vi tế và chỉ các bậc trí mới thấu hiểu. Với trí tuệ thượng thừa, Ta thấy hiểu rõ các pháp này và tuyên bố trước thế gian (những gì Ta thấy hiểu rõ). Những ai thực sự tôn kính Như Lai nên nói về các pháp cao thượng này một cách đúng đắn như thế.
QUANH CO MẬP MỜ – AMARĀVIKKHEPA:
Một số đạo sĩ và bà la môn là những người quanh co, mập mờ. Khi được hỏi về điều này hay điều nọ, họ nói quanh co qua bốn cách. Dựa vào đâu bốn tà kiến này ra đời?
- Ở đây, có một số đạo sĩ và bà la môn không hiểu rõ cái gì là tốt đẹp thiện lành và cái gì là bất thiện xấu xa. Vị này nghĩ rằng: “Ta chẳng biết cái gì là tốt đẹp thiện lành và cái gì là bất thiện xấu xa. Không biết rõ cái gì là tốt đẹp thiện lành và cái gì là bất thiện xấu xa, ta có thể tuyên bố sai. Nếu tuyên bố sai, ta sẽ gặp rắc rối, đau khổ.” Lo sợ như thế, vị này chẳng hề tuyên bố cái gì là tốt đẹp thiện lành và cái gì là bất thiện xấu xa. Khi được hỏi, vị này trả lời quanh co: “Tôi không cho là như vậy theo cách này… Tôi không cho là như vậy theo cách kia… Tôi cũng không cho là như vậy theo cách thức khác… Tôi không nói là không phải… Tôi cũng chẳng nói là không phải cái này cũng chẳng phải cái kia.” Đây là cách thức thứ nhất khiến một số đạo sĩ và bà la môn nói quanh co, lập lờ.
- Ở đây, có một số đạo sĩ và bà la môn không hiểu rõ cái gì là tốt đẹp thiện lành và cái gì là bất thiện xấu xa. Vị này nghĩ rằng: “Ta chẳng biết cái gì là tốt đẹp thiện lành và cái gì là bất thiện xấu xa. Không biết rõ cái gì là tốt đẹp thiện lành và cái gì là bất thiện xấu xa, tham ái, sân hận có thể phát sinh trong tâm ta. Khi tham ái sân hận phát sinh, ta có thể bị quấn vào đó. Bị quấn vào đó, ta sẽ gặp rắc rối, đau khổ.” Lo sợ như thế, vị này chẳng hề tuyên bố cái gì là tốt đẹp thiện lành và cái gì là bất thiện xấu xa. Khi được hỏi, vị này trả lời quanh co: “Tôi không cho là vậy theo cách này… Tôi không cho là vậy theo cách kia… Tôi cũng không cho là vậy theo cách thức khác… Tôi không nói là không phải… Tôi cũng chẳng nói là không phải cái này cũng chẳng phải cái kia.” Đây là cách thức thứ hai khiến một số đạo sĩ và bà la môn nói quanh co, lập lờ.
- Ở đây, có một số đạo sĩ và bà la môn không hiểu rõ cái gì là tốt đẹp thiện lành và cái gì là bất thiện xấu xa. Vị này nghĩ rằng: “Ta chẳng biết cái gì là tốt đẹp thiện lành và cái gì là bất thiện xấu xa. Có những vị tỳ khưu và bà la môn trí tuệ, thông thái, rành rẽ biện luận rong ruỗi đó đây đập tan tà kiến (của người khác) bằng trí tuệ hiểu biết của các vị ấy. Nếu ta tuyên bố cái gì là tốt đẹp thiện lành và cái gì là bất thiện xấu xa, các vị ấy có thể chất vấn ta. Khi họ làm vậy, ta không thể trả lời. Khi không trả lời được, ta sẽ gặp rắc rối, đau khổ.” Lo sợ như thế, vị này chẳng tuyên bố cái gì là tốt đẹp thiện lành và cái gì là bất thiện xấu xa. Khi được hỏi, vị này trả lời quanh co: “Tôi không cho là vậy theo cách này… Tôi không cho là vậy theo cách kia… Tôi cũng không cho là vậy theo cách thức khác… Tôi không nói là không phải… Tôi cũng chẳng nói là không phải cái này cũng chẳng phải cái kia.” Đây là cách thức thứ hai khiến một số đạo sĩ và bà la môn nói quanh co, lập lờ.
- Ở đây, có một số đạo sĩ và bà la môn khờ khạo. Do vậy, khi được hỏi những câu hỏi sau, họ trả lời quanh co:
“Khi bạn hỏi tôi:
- – có thế giới nào khác,
- – không có thế giới nào khác,
- – có lẫn không có thế giới nào khác,
- – chẳng phải có cũng chẳng phải không có thế giới nào khác,
- – Có chúng sinh hóa sinh
- – Không có chúng sinh hóa sinh
- – Có chúng sinh hóa sinh và có chúng sinh không hóa sinh
- – Chẳng có chúng sinh hóa sinh cũng chẳng có chúng sinh không hóa sinh
- – Có quả của nghiệp tốt và nghiệp xấu
- – Không có quả của nghiệp tốt và nghiệp xấu
- – Có quả lẫn không có quả của nghiệp tốt và nghiệp xấu
- – Chẳng có quả của nghiệp tốt và nghiệp xấu cũng chẳng có không có quả của nghiệp tốt và nghiệp xấu
- – Đức Phật tồn tại sau khi qua đời
- – Đức Phật không tồn tại sau khi qua đời
- – Đức Phật vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi qua đời
- – Đức Phật chẳng tồn tại cũng chẳng phải không tồn tại sau khi qua đời
Nếu tôi nghĩ là có, tôi sẽ trả lời là có. Nhưng tôi không nói rằng nó giống như thế này… Tôi không nói rằng nó giống như thế kia… Tôi cũng không nói rằng nó là cái gì khác… Tôi không nói nó phải là như thế… Tôi cũng chẳng phản đối nó phải là như thế.”
Đây là cách thức thứ tư khiến một số đạo sĩ và bà la môn nói quanh co, lập lờ.
Một số đạo sĩ và bà la môn là những người quanh co, lập lờ. Khi được hỏi về điềy này hay điều nọ, họ nói quanh co qua bốn cách. Dù họ tuyên bố ra sao, tuyên bố của họ rơi vào một trong bốn cách như thế, và không còn cách thức nào khác.
Này các tỳ khưu, Như Lai cũng hiểu rằng: Suy diễn sai lầm và chấp chặt vào những tà kiến như thế sẽ đưa đến tái sinh cõi này hay cõi khác. Không những hiểu rõ các tà kiến này, Như Lai còn hiểu các pháp cao thượng hơn. Ta thấy hiểu rõ các pháp này và sự hiểu biết này không bị sai lạc. Nhưng Như Lai không dính mắc vào loại hiểu biết này và do vậy, kinh nghiệm sự tĩnh lặng. Hiểu rõ nguyên nhân phát sinh của cảm thọ, sự ngưng nghỉ của cảm thọ, sự thỏa thích nơi cảm thọ, hiểm nguy nơi cảm thọ và sự giải thoát khỏi cảm thọ đúng như nó là vậy, Như Lai thoát khỏi mọi tham ái.
Này tỳ khưu, các pháp này thật vi diệu thâm sâu, khó nhận thấy, khó lĩnh hội, là pháp tĩnh lặng, cao thượng, vượt lên mọi suy đoán, vi tế và chỉ các bậc trí mới thấu hiểu. Với trí tuệ thượng thừa, Ta thấy hiểu rõ các pháp này và tuyên bố trước thế gian (những gì Ta thấy hiểu rõ). Những ai thực sự tôn kính Như Lai nên nói về các pháp cao thượng này một cách đúng đắn như thế.
KHÔNG CÓ NGUYÊN NHÂN (TỰ PHÁT SINH) – ADHICCASAMUPPANNA DIṬṬHI:
Một số đạo sĩ và bà la môn cho rằng mọi thứ tự động phát sinh, mà chẳng có nguyên nhân qua hai cách. Dựa vào đâu hai tà kiến này ra đời?
- Này các tỳ khưu, trong thế giới này có các vị Phạm Thiên cõi Vô Tưởng Asanññāsatta chỉ có tâm (không có thân). Sau khi qua đời và tái sinh vào Dục giới, tâm thức họ sinh khởi trở lại. Một số họ sinh vào cõi người, làm đạo sĩ sống đời không nhà. Vị này có được định tâm nhờ tinh tấn, nỗ lực, dốc lòng tu tập, không dễ duôi và hướng tâm chân chánh. Với định tâm mạnh mẽ như thế, vị này có thể nhớ lại một kiếp quá khứ của mình (ở cõi Phạm thiên trên). Do vậy, vị này tuyên bố rằng: “Linh hồn atta và thế giới loka tự động phát sinh, không có nguyên nhân. Vì sao? Vì trước kia tôi không tồn tại và bây giờ tôi bỗng có mặt, tồn tại.” Đây là cách thức thứ nhất khiến một số đạo sĩ và bà la môn cho rằng linh hồn và thế giới tự động phát sinh, không có nguyên nhân.
- Trong thế giới này có các vị đạo sĩ và bà la môn là nhà lô gíc, lý luận. Từ những suy luận cá nhân, vị này suy diễn rằng: “Linh hồn và thế giới tự động phát sinh, không có nguyên nhân.” Đây là cách thức thứ hai khiến một số đạo sĩ và bà la môn cho rằng linh hồn và thế giới tự động phát sinh, không có nguyên nhân.
Một số đạo sĩ và bà la môn cho rằng mọi thứ tự động phát sinh, mà chẳng có nguyên nhân qua hai cách. Dù họ tuyên bố ra sao, tuyên bố của họ rơi vào một trong hai cách như thế, và không còn cách thức nào khác.
Này các tỳ khưu, Như Lai cũng hiểu rằng: Suy diễn sai lầm và chấp chặt vào những tà kiến như thế sẽ đưa đến tái sinh cõi này hay cõi khác. Không những hiểu rõ các tà kiến này, Như Lai còn hiểu các pháp cao thượng hơn. Ta thấy hiểu rõ các pháp này và sự hiểu biết này không bị sai lạc. Nhưng Như Lai không dính mắc vào loại hiểu biết này và do vậy, kinh nghiệm sự tĩnh lặng. Hiểu rõ nguyên nhân phát sinh của cảm thọ, sự ngưng nghỉ của cảm thọ, sự thỏa thích nơi cảm thọ, hiểm nguy nơi cảm thọ và sự giải thoát khỏi cảm thọ đúng như nó là vậy, Như Lai thoát khỏi mọi tham ái.
Này tỳ khưu, các pháp này thật vi diệu thâm sâu, khó nhận thấy, khó lĩnh hội, là pháp tĩnh lặng, cao thượng, vượt lên mọi suy đoán, vi tế và chỉ các bậc trí mới thấu hiểu. Với trí tuệ thượng thừa, Ta thấy hiểu rõ các pháp này và tuyên bố trước thế gian (những gì Ta thấy hiểu rõ). Những ai thực sự tôn kính Như Lai nên nói về các pháp cao thượng này một cách đúng đắn như thế.
KẾT LUẬN
Này các tỳ khưu, một số đạo sĩ và bà la môn suy diễn về quá khứ và chấp vào những tà kiến này qua 18 cách như thế. Dù tuyên bố ra sao, tuyên bố của họ rơi vào một trong 18 cách như thế, và không còn cách thức nào khác.
Này các tỳ khưu, Như Lai cũng hiểu rằng: Suy diễn sai lầm và chấp chặt vào những tà kiến như thế sẽ đưa đến tái sinh cõi này hay cõi khác. Không những hiểu rõ các tà kiến này, Như Lai còn hiểu các pháp cao thượng hơn. Ta thấy hiểu rõ các pháp này và sự hiểu biết này không bị sai lạc. Nhưng Như Lai không dính mắc vào loại hiểu biết này và do vậy, kinh nghiệm sự tĩnh lặng. Hiểu rõ nguyên nhân phát sinh của cảm thọ, sự ngưng nghỉ của cảm thọ, sự thỏa thích nơi cảm thọ, hiểm nguy nơi cảm thọ và sự giải thoát khỏi cảm thọ đúng như nó là vậy, Như Lai thoát khỏi mọi tham ái.
Này tỳ khưu, các pháp này thật vi diệu thâm sâu, khó nhận thấy, khó lĩnh hội, là pháp tĩnh lặng, cao thượng, vượt lên mọi suy đoán, vi tế và chỉ các bậc trí mới thấu hiểu. Với trí tuệ thượng thừa, Ta thấy hiểu rõ các pháp này và tuyên bố trước thế gian (những gì Ta thấy hiểu rõ). Những ai thực sự tôn kính Như Lai nên nói về các pháp cao thượng này một cách đúng đắn như thế.
44 TÀ KIẾN LIÊN QUAN ĐẾN TƯƠNG LAI:
Này các tỳ khưu, một số đạo sĩ và bà la môn suy diễn về tương lai, đưa ra 44 thuyết về tương lai và chấp vào những tà kiến này. Dựa vào đâu họ làm như thế?
16 TÀ KIẾN CHO RẰNG LINH HỒN CÓ TÂM THỨC TỒN TẠI SAU KHI CHẾT – SAÑÑĀ DIṬTHI:
Cho rằng tâm thức tồn tại sau khi chết, một số đạo sĩ và bà la môn tuyên bố rằng “linh hồn có tâm thức vẫn tồn tại sau khi chết” qua 16 cách. Dựa vào đâu 16 tà kiến này ra đời?
- Họ cho rằng linh hồn atta là thân sắc (rūpa) có tâm thức, và linh hồn này không hư hoại sau khi chết.
(Một số đạo sĩ và bà la môn hành thiền định, chứng đắc tầng thiền Sắc giới, dựa vào kinh nghiệm thiền Định lấy dĩa đất kasina làm đề mục. Vị này cho rằng đề mục dĩa đất kasina là thân sắc vì đặc tính tương đồng của dĩa đất kasina và sắc pháp, hoặc vì bản chất thay đổi của quang tướng nimitta từ nhỏ chuyển thành lớn và từ lớn trở nên giãn nở to hơn qua tưởng tượng của tâm. Cho rằng đề mục dĩa đất kasina là thân sắc, người này suy diễn (thêm) rằng linh hồn là thân sắc. Vị này còn cho rằng tâm thiền lấy dĩa đất làm đề mục là tâm thức của linh hồn. Từ đó, tà kiến “linh hồn là thân sắc có tâm thức và linh hồn này không hư hoại sau khi chết” phát sinh.)
Người không chứng đắc tầng thiền nào suy diễn cho rằng linh hồn atta chính là thân sắc này (rūpa) và thân sắc này có tâm thức. Hai loại người này đều tin rằng sau khi qua đời trong kiếp này, linh hồn atta có tâm thức này trường tồn không hư hoại.)
- Họ cho rằng linh hồn atta là vô sắc (arūpa) có tâm thức, và linh hồn này không hư hoại sau khi chết.
(Một số đạo sĩ và bà la môn hành thiền định, chứng đắc tầng thiền Vô Sắc giới, lấy không vô biên xứ làm đề mục. Người này cho rằng đề mục không vô biên xứ là linh hồn atta. Đề mục không vô biên xứ không phải là sắc pháp, nên người này suy diễn rằng linh hồn atta là vô sắc (arūpa). Vị này còn cho rằng tâm thiền (lấy không vô biên xứ làm đề mục) là tâm thức saññā (của linh hồn vô sắc). Từ đó, tà kiến “linh hồn vô sắc (ārūpa) có tâm thức và linh hồn này không hư hoại sau khi chết” phát sinh.)
- Họ cho rằng linh hồn atta là sắc và vô sắc có tâm thức, và linh hồn này không hư hoại sau khi chết.
(Một số đạo sĩ và bà la môn hành thiền định, chứng đắc tầng thiền Sắc giới và Vô Sắc giới. Kinh nghiệm thiền Sắc giới và Vô Sắc giới, người này suy diễn rằng linh hồn vừa là sắc và vừa là vô sắc có tâm thức và linh hồn này không hư hoại sau khi chết.)
- Họ cho rằng linh hồn atta không là sắc cũng không là vô sắc nhưng có tâm thức, và linh hồn này không hư hoại sau khi chết.
(Một số đạo sĩ và bà la môn không chứng đắc tầng thiền nào suy diễn cho rằng linh hồn atta không là sắc cũng không là vô sắc, và linh hồn này không hư hoại sau khi chết.)
- Họ cho rằng linh hồn atta là giới hạn và có tâm thức, và linh hồn này không hư hoại sau khi chết.
(Một số đạo sĩ và bà la môn hành thiền định, chứng đắc tầng thiền Sắc giới, dựa vào kinh nghiệm thiền Định lấy dĩa đất kasina làm đề mục. Thoạt đầu, quang tướng nimitta phát sinh có cùng kích cỡ với đề mục. Về sau, khi định tâm lớn mạnh, quang tướng này có thể trải rộng trong một phạm vi giới hạn. Do vậy, người này cho rằng (giống như quang tướng) linh hồn là giới hạn, linh hồn này có tâm thức và không hư hoại sau khi chết.)
- Họ cho rằng linh hồn atta là giới hạn và có tâm thức, và linh hồn này không hư hoại sau khi chết.
(Một số đạo sĩ và bà la môn hành thiền định, chứng đắc tầng thiền Sắc giới, dựa vào kinh nghiệm thiền Định lấy dĩa đất kasina làm đề mục. Khi định tâm lớn mạnh, quang tướng này trải rộng và trở nên vô tận. Do vậy, người này cho rằng linh hồn là vô tận và có tâm thức, và linh hồn này không hư hoại sau khi chết.)
- Họ cho rằng linh hồn atta có giới hạn theo chiều thẳng đứng và vô hạn theo chiều ngang và có tâm thức, và linh hồn này không hư hoại sau khi chết.
(Một số đạo sĩ và bà la môn hành thiền định, chứng đắc tầng thiền Sắc giới, dựa vào kinh nghiệm thiền Định lấy dĩa đất kasina làm đề mục. Khi định tâm lớn mạnh, quang tướng này trải rộng có giới hạn theo chiều thẳng đứng và vô hạn theo chiều ngang theo sự tưởng tượng của tâm. Do vậy, người này cho rằng linh hồn có giới hạn theo chiều thẳng đứng, vô hạn theo chiều ngang và có tâm thức, và linh hồn này không hư hoại sau khi chết.)
- Họ cho rằng linh hồn atta không giới hạn cũng không vô hạn và có tâm thức, và linh hồn này không hư hoại sau khi chết.
(Một số đạo sĩ và bà la môn không chứng đắc tầng thiền nào suy diễn cho rằng linh hồn atta không giới hạn cũng không vô hạn và có tâm thức, và linh hồn này không hư hoại sau khi chết.)
- Họ cho rằng linh hồn atta là một tâm thức duy nhất và linh hồn này không hư hoại sau khi chết.
(Một số đạo sĩ và bà la môn hành thiền Định và xả thiền, vị này cho rằng tâm thiền là linh hồn. Vì tâm thiền chỉ theo dõi một đề mục duy nhất, họ cho rằng linh hồn là một tâm thức duy nhất và linh hồn này không hư hoại sau khi chết.)
- Họ cho rằng linh hồn atta gồm nhiều loại tâm thức và linh hồn này không hư hoại sau khi chết.
(Một số đạo sĩ và bà la môn không chứng đắc tầng thiền nào suy diễn cho rằng linh hồn atta gồm nhiều loại tâm thức và linh hồn này không hư hoại sau khi chết.)
- Họ cho rằng linh hồn atta có tâm thức nhỏ và giới hạn, và linh hồn này không hư hoại sau khi chết.
(Một số đạo sĩ và bà la môn hành thiền định, chứng đắc tầng thiền Sắc giới dựa vào kinh nghiệm thiền Định lấy dĩa đất kasina làm đề mục. Vì việc tu tập chưa phát triển cao, vị này thấy quang tướng nimitta chưa lớn và giãn nở. Kinh nghiệm quang tướng nhỏ và giới hạn, vị này suy diễn rằng linh hồn có tâm thức nhỏ và giới hạn, và linh hồn này không hư hoại sau khi chết. Có người còn mô tả linh hồn nhỏ như ngón tay cái, như hạt giống, như nguyên tử, nên có tâm thức nhỏ và giới hạn.)
- Họ cho rằng linh hồn atta có tâm thức vô hạn, và linh hồn này không hư hoại sau khi chết.
(Một số đạo sĩ và bà la môn hành thiền định, chứng đắc tầng thiền Sắc giới dựa vào kinh nghiệm thiền Định lấy dĩa đất kasina làm đề mục. Khi thấy thấy quang tướng nimitta lớn rộng và giãn nở, vị này suy diễn rằng linh hồn có tâm thức vô hạn này không hư hoại sau khi chết. Có người cho rằng linh hồn tồn tại trong mọi vật vô tình lẫn hữu tình, và do vậy có vô số tâm thức.)
- Họ cho rằng linh hồn atta hạnh phúc hỷ lạc, và linh hồn này không hư hoại sau khi chết.
(Một số đạo sĩ và bà la môn hành thiền định, chứng đắc thiên nhãn thông. Nhờ vậy, vị này thấy các vị Phạm thiên thuộc các cõi Sắc giới thấp an trú trong thiền và hưởng hỷ lạc. Do vậy, người này suy diễn rằng linh hồn rất đỗi hạnh phúc hỷ lạc, linh hồn có tâm thức, và không hư hoại sau khi chết.)
- Họ cho rằng linh hồn atta kinh nghiệm đau khổ, và linh hồn này không hư hoại sau khi chết.
(Một số đạo sĩ và bà la môn hành thiền định, chứng đắc thiên nhãn thông và thấy các chúng sinh ở cõi khổ. Do vậy, người này suy diễn rằng linh hồn kinh nghiệm đau khổ, linh hồn có tâm thức, và không hư hoại sau khi chết.)
- Họ cho rằng linh hồn atta kinh nghiệm hạnh phúc lẫn đau khổ, và linh hồn này không hư hoại sau khi chết.
(Một số đạo sĩ và bà la môn thấy trong thế giới loài người, chúng sinh kinh nghiệm hạnh phúc lẫn đau khổ. Do vậy, người này suy diễn rằng linh hồn kinh nghiệm hạnh phúc lẫn đau khổ, linh hồn có tâm thức, và không hư hoại sau khi chết.)
- Họ cho rằng linh hồn atta không hạnh phúc cũng không đau khổ, và linh hồn này không hư hoại sau khi chết.
(Một số đạo sĩ và bà la môn hành thiền định, chứng đắc thiên nhãn thông. Nhờ vậy, vị này thấy các Phạm thiên thuộc cõi Vehapphala sống phát triển tâm xả. Qua đó, người này suy diễn rằng linh hồn không hạnh phúc cũng không đau khổ, linh hồn có tâm thức, và không hư hoại sau khi chết.)
KẾT LUẬN
Này các tỳ khưu, cho rằng tâm thức tồn tại sau khi chết, một số đạo sĩ và bà la môn tuyên bố rằng “linh hồn có tâm thức vẫn tồn tại sau khi chết” qua 16 cách. Dù họ tuyên bố ra sao, tuyên bố của họ rơi vào một trong 16 cách như thế, và không còn cách thức nào khác.
Này các tỳ khưu, Như Lai cũng hiểu rằng: Suy diễn sai lầm và chấp chặt vào những tà kiến như thế sẽ đưa đến tái sinh cõi này hay cõi khác. Không những hiểu rõ các tà kiến này, Như Lai còn hiểu các pháp cao thượng hơn. Ta thấy hiểu rõ các pháp này và sự hiểu biết này không bị sai lạc. Nhưng Như Lai không dính mắc vào loại hiểu biết này và do vậy, kinh nghiệm sự tĩnh lặng. Hiểu rõ nguyên nhân phát sinh của cảm thọ, sự ngưng nghỉ của cảm thọ, sự thỏa thích nơi cảm thọ, hiểm nguy nơi cảm thọ và sự giải thoát khỏi cảm thọ đúng như nó là vậy, Như Lai thoát khỏi mọi tham ái.
Này tỳ khưu, các pháp này thật vi diệu thâm sâu, khó nhận thấy, khó lĩnh hội, là pháp tĩnh lặng, cao thượng, vượt lên mọi suy đoán, vi tế và chỉ các bậc trí mới thấu hiểu. Với trí tuệ thượng thừa, Ta thấy hiểu rõ các pháp này và tuyên bố trước thế gian (những gì Ta thấy hiểu rõ). Những ai thực sự tôn kính Như Lai nên nói về các pháp cao thượng này một cách đúng đắn như thế.
8 TÀ KIẾN CHO RẰNG TÂM THỨC KHÔNG TỒN TẠI SAU KHI CHẾT –ASAÑÑĀ DIṬTHI:
Cho rằng tâm thức không tồn tại sau khi chết, một số đạo sĩ và bà la môn tuyên bố rằng “linh hồn vẫn tồn tại, nhưng không còn tâm thức sau khi chết” qua tám cách. Dựa vào đâu tám tà kiến này ra đời?
- Họ cho rằng linh hồn atta là sắc (rūpa) vốn không có tâm thức, và linh hồn này không hư hoại sau khi chết.
(Một số đạo sĩ và bà la môn hành thiền định quan sát quang tướng nimitta và có được thiên nhãn thông. Lầm tưởng quang tướng nimitta là linh hồn, họ cho rằng linh hồn atta là sắc. Với thiên nhãn thông thấy các Phạm thiên sinh vào cõi Vô Tưởng Asanññāsatta chỉ có tâm (không có thân), họ tuyên bố rằng linh hồn là thân sắc (rūpa) tồn tại vĩnh cữu, nhưng linh hồn này không có tâm trước và sau khi chết.)
- Họ cho rằng linh hồn atta là vô sắc (arūpa) vốn không có tâm thức, và linh hồn này không hư hoại sau khi chết.
(Có người cho rằng linh hồn là tưởng uẩn, nên linh hồn là vô sắc. Họ lý luận rằng: Ngoài tưởng uẩn là linh hồn, không còn loại tưởng nào khác. Do vậy, họ tuyên bố rằng linh hồn (tưởng uẩn) tồn tại vĩnh cữu nhưng không có tâm thức saññā nào sau khi chết.)
- Họ cho rằng linh hồn atta là sắc (rūpa) và vô sắc (arūpa) vốn không có tâm thức, và linh hồn này không hư hoại sau khi chết.
(Có người cho rằng linh hồn là năm uẩn – bao gồm sắc uẩn và tưởng uẩn. Vì có sắc uẩn, linh hồn là sắc; và vì có bốn uẩn thuộc về tâm, linh hồn là vô sắc; do vậy, linh hồn là sắc và vô sắc. Ngoài tưởng uẩn saññā (là một trong năm uẩn), không còn loại tưởng nào khác. Do vậy, họ tuyên bố rằng dù là trước hay sau khi chết, linh hồn không có tâm thức saññā. Do vậy, không có tâm thức nào sau khi chết.)
- Họ cho rằng linh hồn atta không là sắc (rūpa) cũng không là vô sắc (arūpa) vốn không có tâm thức, và linh hồn này không hư hoại sau khi chết (qua suy diễn suông).
- Họ cho rằng linh hồn atta là giới hạn và không có tâm thức.
(Một số đạo sĩ và bà la môn hành thiền định, chứng đắc tầng thiền Sắc giới dựa vào kinh nghiệm thiền Định lấy dĩa đất kasina làm đề mục. Vì việc tu tập chưa phát triển cao, quang tướng nimitta chưa lớn và giãn nở. Kinh nghiệm quang tướng nhỏ và giới hạn, vị này suy diễn rằng linh hồn nhỏ và giới hạn. Và vì quang tướng không có tâm thức saññā, vị này suy diễn rằng không có tâm thức saññā sau khi chết.)
- Họ cho rằng linh hồn atta là vô hạn và không có tâm thức.
(Một số đạo sĩ và bà la môn hành thiền định, chứng đắc tầng thiền Sắc giới dựa vào kinh nghiệm thiền Định lấy dĩa đất kasina làm đề mục. Khi thấy thấy quang tướng lớn rộng và giãn nở, vị này suy diễn rằng linh hồn là vô hạn. Và vì quang tướng không có tâm thức, vị này suy diễn rằng không có tâm thức saññā sau khi chết.)
- Họ cho rằng linh hồn atta là giới hạn và vô hạn và không có tâm thức.
(Ở đây, vì người này kinh nghiệm đề mục có giới hạn theo chiều thẳng đứng và vô hạn theo chiều ngang qua sự tưởng tượng của tâm, nên cho rằng linh hồn là giới hạn và vô hạn. Và vì quang tướng không có tâm thức, vị này suy diễn rằng không có tâm thức saññā sau khi chết.)
- Họ cho rằng linh hồn atta không giới hạn cũng không vô hạn và không có tâm thức.
(Một số đạo sĩ và bà la môn không chứng đắc tầng thiền nào suy diễn cho rằng linh hồn không giới hạn cũng không vô hạn và không có tâm thức saññā sau khi chết.)
KẾT LUẬN
Cho rằng tâm thức không tồn tại sau khi chết, một số đạo sĩ và bà la môn tuyên bố rằng “linh hồn vẫn tồn tại, nhưng không còn tâm thức sau khi chết” qua tám cách. Dù họ tuyên bố ra sao, tuyên bố của họ rơi vào một trong tám cách như thế, và không còn cách thức nào khác.
Này các tỳ khưu, Như Lai cũng hiểu rằng: Suy diễn sai lầm và chấp chặt vào những tà kiến như thế sẽ đưa đến tái sinh cõi này hay cõi khác. Không những hiểu rõ các tà kiến này, Như Lai còn hiểu các pháp cao thượng hơn. Ta thấy hiểu rõ các pháp này và sự hiểu biết này không bị sai lạc. Nhưng Như Lai không dính mắc vào loại hiểu biết này và do vậy, kinh nghiệm sự tĩnh lặng. Hiểu rõ nguyên nhân phát sinh của cảm thọ, sự ngưng nghỉ của cảm thọ, sự thỏa thích nơi cảm thọ, hiểm nguy nơi cảm thọ và sự giải thoát khỏi cảm thọ đúng như nó là vậy, Như Lai thoát khỏi mọi tham ái.
Này tỳ khưu, các pháp này thật vi diệu thâm sâu, khó nhận thấy, khó lĩnh hội, là pháp tĩnh lặng, cao thượng, vượt lên mọi suy đoán, vi tế và chỉ các bậc trí mới thấu hiểu. Với trí tuệ thượng thừa, Ta thấy hiểu rõ các pháp này và tuyên bố trước thế gian (những gì Ta thấy hiểu rõ). Những ai thực sự tôn kính Như Lai nên nói về các pháp cao thượng này một cách đúng đắn như thế.
8 TÀ KIẾN CHO RẰNG KHÔNG CÓ SỰ TỒN TẠI CỦA TÂM THỨC HAY KHÔNG TÂM THỨC SAU KHI CHẾT –NEVASAÑÑĀ NASAÑÑĀ DIṬTHI:
(Ở đây, “tâm thức” bao gồm tâm vương và các tâm sở.)
Cho rằng không có sự tồn tại của tâm thức hay không tâm thức sau khi chết, một số đạo sĩ và bà la môn tuyên bố rằng “linh hồn vẫn tồn tại, nhưng không có sự tồn tại của tâm thức hay không tâm thức sau khi chết” qua tám cách. Dựa vào đâu tám tà kiến này ra đời?
- Họ cho rằng linh hồn atta là sắc vốn tồn tại vĩnh viễn, và linh hồn này không phải có tâm thức cũng không phải không có tâm thức.
(Ở đây, có người cho rằng tâm thức trở nên yếu ớt, vi tế vào lúc chết và tái sinh, nên khó có thể khẳng định tâm thức tồn tại hay không. Do vậy linh hồn này không phải có tâm thức cũng không phải không có tâm thức.)
- Họ cho rằng linh hồn atta là vô sắc vốn tồn tại vĩnh viễn, và linh hồn này không phải có tâm thức cũng không phải không có tâm thức.
- Họ cho rằng linh hồn atta là sắc và vô sắc, vốn tồn tại vĩnh viễn, và linh hồn này không phải có tâm thức cũng không phải không có tâm thức.
- Họ cho rằng linh hồn atta không là sắc cũng không là vô sắc, vốn tồn tại vĩnh viễn, và linh hồn này không phải có tâm thức cũng không phải không có tâm thức.
- Họ cho rằng linh hồn atta là giới hạn, vốn tồn tại vĩnh viễn, và linh hồn này không phải có tâm thức cũng không phải không có tâm thức.
- Họ cho rằng linh hồn atta là vô hạn, vốn tồn tại vĩnh viễn, và linh hồn này không phải có tâm thức cũng không phải không có tâm thức.
- Họ cho rằng linh hồn atta là giới hạn và vô hạn, vốn tồn tại vĩnh viễn, và linh hồn này không phải có tâm thức cũng không phải không có tâm thức.
Họ cho rằng linh hồn atta không giới hạn cũng không vô hạn, vốn tồn tại vĩnh viễn
KẾT LUẬN
Cho rằng không có sự tồn tại của tâm thức hay không tâm thức sau khi chết, một số đạo sĩ và bà la môn tuyên bố rằng “linh hồn vẫn tồn tại, nhưng không có sự tồn tại của tâm thức hay không tâm thức sau khi chết” qua tám cách. Dù họ tuyên bố ra sao, tuyên bố của họ rơi vào một trong tám cách như thế, và không còn cách thức nào khác.
Này các tỳ khưu, Như Lai cũng hiểu rằng: Suy diễn sai lầm và chấp chặt vào những tà kiến như thế sẽ đưa đến tái sinh cõi này hay cõi khác. Không những hiểu rõ các tà kiến này, Như Lai còn hiểu các pháp cao thượng hơn. Ta thấy hiểu rõ các pháp này và sự hiểu biết này không bị sai lạc. Nhưng Như Lai không dính mắc vào loại hiểu biết này và do vậy, kinh nghiệm sự tĩnh lặng. Hiểu rõ nguyên nhân phát sinh của cảm thọ, sự ngưng nghỉ của cảm thọ, sự thỏa thích nơi cảm thọ, hiểm nguy nơi cảm thọ và sự giải thoát khỏi cảm thọ đúng như nó là vậy, Như Lai thoát khỏi mọi tham ái.
Này tỳ khưu, các pháp này thật vi diệu thâm sâu, khó nhận thấy, khó lĩnh hội, là pháp tĩnh lặng, cao thượng, vượt lên mọi suy đoán, vi tế và chỉ các bậc trí mới thấu hiểu. Với trí tuệ thượng thừa, Ta thấy hiểu rõ các pháp này và tuyên bố trước thế gian (những gì Ta thấy hiểu rõ). Những ai thực sự tôn kính Như Lai nên nói về các pháp cao thượng này một cách đúng đắn như thế.
7 TÀ KIẾN VỀ ĐOẠN TUYỆT– UCCHEDA DIṬTHI:
Một số đạo sĩ và bà la môn tin vào thuyết đoạn tuyệt, cho rằng những chúng sinh đang sống sẽ biến mất, không còn tái sinh trong tương lai qua bảy cách. Dựa vào đâu bảy tà kiến này ra đời?
- “Này bạn, linh hồn atta là sắc pháp tạo thành bởi bốn yếu tố, phát sinh từ cha mẹ, không còn tồn tại sau khi thân hoại mạng chung. Do vậy, linh hồn hoàn toàn biến mất sau khi chết.” Có người tuyên bố sự đoạn tuyệt, chấm dứt và không sinh khởi trong tương lai của chúng sinh đang sống như thế.
- “Này bạn, linh hồn atta mà bạn nói đến có tồn tại, không phải là không tồn tại. Nhưng có loại linh hồn khác cũng hoàn toàn biến mất. (Đó là) những linh hồn của chư thiên cõi Dục giới có thân được dưỡng nuôi bằng vật thực. Bạn không biết về linh hồn đó, cũng không thấy linh hồn đó. Nhưng tôi biết và tôi thấy. Khi thân này hư hoại, chết đi, linh hồn này không còn tồn tại. Do vậy, linh hồn hoàn toàn biến mất sau khi chết.” Có người tuyên bố sự đoạn tuyệt, chấm dứt và không sinh khởi trong tương lai của chúng sinh đang sống (chư thiên) như thế.
- “Này bạn, linh hồn atta mà bạn nói đến có tồn tại, không phải là không tồn tại. Nhưng có loại linh hồn khác cũng hoàn toàn biến mất. (Đó là) những linh hồn của các Phạm thiên có thân phát sinh do tâm thiền Sắc giới, gồm những cơ quan lớn nhỏ, đầy đủ không thiếu sắc căn nào. Bạn không biết về linh hồn đó, cũng không thấy linh hồn đó. Nhưng tôi biết và tôi thấy. Khi thân cùng với các căn hư hoại, chết đi, linh hồn này không còn tồn tại. Do vậy, linh hồn hoàn toàn biến mất sau khi chết.”
Có người tuyên bố sự đoạn tuyệt, chấm dứt và không sinh khởi trong tương lai của chúng sinh đang sống (Phạm thiên Sắc giới) như thế.
- “Này bạn, linh hồn atta mà bạn nói đến có tồn tại, không phải là không tồn tại. Nhưng có loại linh hồn khác cũng hoàn toàn biến mất. (Đó là) những linh hồn của những người hành thiền Định, lấy không vô biên xứ làm đề mục. Tại đây (cõi Phạm thiên không vô biên xứ), tưởng liên quan đến sắc pháp (rūpasaññā) không còn, tưởng phát sinh do có sự tiếp xúc giữa các căn và dề mục biến mất, các thể loại tưởng khác cũng không còn được chú ý. Bạn không biết về linh hồn đó, cũng không thấy linh hồn đó. Nhưng tôi biết và tôi thấy. Khi các danh uẩn này không còn (khi các vị Phạm thiên Vô Sắc này qua đời), linh hồn này không còn tồn tại. Do vậy, linh hồn hoàn toàn biến mất sau khi chết.” Có người tuyên bố sự đoạn tuyệt, chấm dứt và không sinh khởi trong tương lai của chúng sinh đang sống (Phạm thiên Vô Sắc giới) như thế.
- “Này bạn, linh hồn atta mà bạn nói đến có tồn tại, không phải là không tồn tại. Nhưng có loại linh hồn khác cũng hoàn toàn biến mất. (Đó là) những linh hồn của những người hành thiền Định, lấy Thức vô biên xứ làm đề mục, vốn cao hơn không vô biên xứ. Bạn không biết về linh hồn đó, cũng không thấy linh hồn đó. Nhưng tôi biết và tôi thấy. Khi các danh uẩn này không còn (khi các vị Phạm thiên Vô Sắc này qua đời), linh hồn này không còn tồn tại. Do vậy, linh hồn hoàn toàn biến mất sau khi chết.” Có người tuyên bố sự đoạn tuyệt, chấm dứt và không sinh khởi trong tương lai của chúng sinh đang sống (Phạm thiên cõi Thức Vô Biên Xứ) như thế.
- “Này bạn, linh hồn atta mà bạn nói đến có tồn tại, không phải là không tồn tại. Nhưng có loại linh hồn khác cũng hoàn toàn biến mất. (Đó là) những linh hồn của những người hành thiền Định, lấy vô sở hữu xứ làm đề mục, vốn cao hơn thức vô biên xứ. Bạn không biết về linh hồn đó, cũng không thấy linh hồn đó. Nhưng tôi biết và tôi thấy. Khi các danh uẩn này không còn (khi các vị Phạm thiên Vô Sắc này qua đời), linh hồn này không còn tồn tại. Do vậy, linh hồn hoàn toàn biến mất sau khi chết.” Có người tuyên bố sự đoạn tuyệt, chấm dứt và không sinh khởi trong tương lai của chúng sinh đang sống (Phạm thiên cõi Thức Vô Sở Hữu Xứ) như thế.
- “Này bạn, linh hồn atta mà bạn nói đến có tồn tại, không phải là không tồn tại. Nhưng có loại linh hồn khác, không thuộc những loại trên, cũng hoàn toàn biến mất. (Đó là) những linh hồn của những người hành thiền Định, lấy phi tưởng phi phi tưởng làm đề mục, vốn cao hơn vô sở hữu xứ. Bạn không biết về linh hồn đó, cũng không thấy linh hồn đó. Nhưng tôi biết và tôi thấy. Khi các danh uẩn này không còn (khi các vị Phạm thiên Vô Sắc này qua đời), linh hồn này không còn tồn tại. Do vậy, linh hồn hoàn toàn biến mất sau khi chết.” Có người tuyên bố sự đoạn tuyệt, chấm dứt và không sinh khởi trong tương lai của chúng sinh đang sống (Phạm thiên cõi Phi Tưởng Phi Phi Tưởng) như thế.
Một số đạo sĩ và bà la môn tin vào thuyết đoạn tuyệt, cho rằng những chúng sinh đang sống sẽ biến mất, không còn tái sinh trong tương lai qua bảy cách. Dù họ tuyên bố ra sao, tuyên bố của họ rơi vào một trong bảy cách như thế, và không còn cách thức nào khác.
Này các tỳ khưu, Như Lai cũng hiểu rằng: Suy diễn sai lầm và chấp chặt vào những tà kiến như thế sẽ đưa đến tái sinh cõi này hay cõi khác. Không những hiểu rõ các tà kiến này, Như Lai còn hiểu các pháp cao thượng hơn. Ta thấy hiểu rõ các pháp này và sự hiểu biết này không bị sai lạc. Nhưng Như Lai không dính mắc vào loại hiểu biết này và do vậy, kinh nghiệm sự tĩnh lặng. Hiểu rõ nguyên nhân phát sinh của các cảm thọ, sự ngưng nghỉ của cảm thọ, sự thỏa thích nơi cảm thọ, hiểm nguy nơi cảm thọ và sự giải thoát khỏi cảm thọ đúng như nó là vậy, Như Lai thoát khỏi mọi tham ái.
Này tỳ khưu, các pháp này thật vi diệu thâm sâu, khó nhận thấy, khó lĩnh hội, là pháp tĩnh lặng, cao thượng, vượt lên mọi suy đoán, vi tế và chỉ các bậc trí mới thấu hiểu. Với trí tuệ thượng thừa, Ta thấy hiểu rõ các pháp này và tuyên bố trước thế gian (những gì Ta thấy hiểu rõ). Những ai thực sự tôn kính Như Lai nên nói về các pháp cao thượng này một cách đúng đắn như thế.
5 TÀ KIẾN CHO RẰNG NIẾT BÀN ĐƯỢC KINH NGHIỆM TRONG KIẾP NÀY– DIṬTHADHAMMA NIBBĀNA DIṬTHI:
Một số đạo sĩ và bà la môn cho rằng những chúng sinh đang sống có thể kinh nghiệm Niết Bàn7“Niết Bàn” mà họ suy diễn là những hạnh phúc thế tục Dục giới hay hỷ, lạc trong thiền Định, không phải Niết Bàn tĩnh lặng mà các bậc Thánh kinh nghiệm qua Minh Sát. trong kiếp này qua năm cách. Dựa vào đâu năm tà kiến này ra đời?
- “Này bạn, linh hồn atta này tận hưởng trọn vẹn và đầy đủ năm hạnh phúc thế tục. Như thế là linh hồn này đang kinh nghiệm hạnh phúc Niết bàn tối thượng ngay trong kiếp sống này.” Có người tuyên bố bản chất Niết Bàn được kinh nghiệm ngay trong kiếp sống này như thế.
- “Này bạn, linh hồn atta mà bạn nói đến có tồn tại, không phải là không tồn tại. Nhưng linh hồn này chưa kinh nghiệm hạnh phúc Niết bàn tối thượng ngay trong kiếp sống này. Vì sao? Vì hạnh phúc thế tục thay đổi vô thường và có bản chất khổ. Vì bản chất thay đổi vô thường và khổ, nên phát sinh buồn bã, than khóc, khổ thân, khổ tâm. Này bạn, từ bỏ hạnh phúc thế tục và các pháp bất thiện xấu ác, linh hồn chứng đắc và an trú trong tầng thiền thứ nhất phát sinh với Tầm Tứ, Hỷ và Lạc do ẩn cư xa rời các pháp bất thiện. Bằng cách này, linh hồn kinh nghiệm hạnh phúc Niết bàn tối thượng ngay trong kiếp sống này.” Có người tuyên bố bản chất Niết Bàn được kinh nghiệm ngay trong kiếp sống này như thế.
- “Này bạn, linh hồn atta mà bạn nói đến có tồn tại, không phải là không tồn tại. Nhưng linh hồn này chưa kinh nghiệm hạnh phúc Niết bàn tối thượng ngay trong kiếp sống này. Vì sao? Vì trong tầng thiền thứ nhất, Tầm và Tứ vẫn phát sinh. Này bạn, chỉ khi làm tĩnh lặng Tầm và Tứ, linh hồn này chứng đắc và an trú trong tầng thiền thứ hai phát sinh với Hỷ, Lạc và có được nhất tâm định tĩnh. Bằng cách này, linh hồn kinh nghiệm hạnh phúc Niết bàn tối thượng ngay trong kiếp sống này.” Có người tuyên bố bản chất Niết Bàn được kinh nghiệm ngay trong kiếp sống này như thế.
- “Này bạn, linh hồn atta mà bạn nói đến có tồn tại, không phải là không tồn tại. Nhưng linh hồn này chưa kinh nghiệm hạnh phúc Niết bàn tối thượng ngay trong kiếp sống này. Vì sao? Vì trong tầng thiền thứ hai, Hỷ vẫn phát sinh. Này bạn, khi loại trừ hỷ; do có chánh niệm, tỉnh giác và tâm xả, linh hồn này chứng đắc và an trú trong tầng thiền thứ ba, phát sinh với Hỷ, Lạc và có được nhất tâm định tĩnh. Bằng cách này, linh hồn kinh nghiệm hạnh phúc Niết bàn tối thượng ngay trong kiếp sống này.” Có người tuyên bố bản chất Niết Bàn được kinh nghiệm ngay trong kiếp sống này như thế.
- “Này bạn, linh hồn atta mà bạn nói đến có tồn tại, không phải là không tồn tại. Nhưng linh hồn này chưa kinh nghiệm hạnh phúc Niết bàn tối thượng ngay trong kiếp sống này. Vì sao? Vì trong tầng thiền thứ ba, Lạc vẫn phát sinh. Này bạn, chỉ khi loại trừ khổ thân khổ tâm, cùng với sự biến mất của thọ lạc và khổ, linh hồn này chứng đắc và an trú trong tầng thiền thứ tư, vốn không còn khổ thân khổ tâm, chỉ còn tâm xả quân bình và chánh niệm thuần khiết. Bằng cách này, linh hồn kinh nghiệm hạnh phúc Niết bàn tối thượng ngay trong kiếp sống này.” Có người tuyên bố bản chất Niết Bàn được kinh nghiệm ngay trong kiếp sống này như thế.
Này các tỳ khưu, Như Lai hiểu rõ 62 tà kiến này. Này các tỳ khưu, Như Lai cũng hiểu rằng: suy diễn sai lầm và chấp chặt vào những tà kiến như thế sẽ đưa đến tái sinh cõi này hay cõi khác. Không những hiểu rõ các tà kiến này, Như Lai còn hiểu các pháp cao thượng hơn. Ta thấy hiểu rõ các pháp này và sự hiểu biết này không bị sai lạc. Nhưng Như Lai không dính mắc vào loại hiểu biết này và do vậy, kinh nghiệm sự tĩnh lặng. Hiểu rõ nguyên nhân phát sinh của các cảm thọ, sự ngưng nghỉ của cảm thọ, sự thỏa thích nơi cảm thọ, hiểm nguy nơi cảm thọ và sự giải thoát khỏi cảm thọ đúng như nó là vậy, Như Lai thoát khỏi mọi tham ái.
Này tỳ khưu, các pháp này thật vi diệu thâm sâu, khó nhận thấy, khó lĩnh hội, là pháp tĩnh lặng, cao thượng, vượt lên mọi suy đoán, vi tế và chỉ các bậc trí mới thấu hiểu. Với trí tuệ thượng thừa, Ta thấy hiểu rõ các pháp này và tuyên bố trước thế gian (những gì Ta thấy hiểu rõ). Những ai thực sự tôn kính Như Lai nên nói về các pháp cao thượng này một cách đúng đắn như thế.
ĐAU KHỔ PHÁT SINH VÌ THỎA THÍCH (BÁM NÍU VÀO) NHỮNG TÀ KIẾN (PARITASSITA VIPPHANDITA)
Một số đạo sĩ hay bà la môn tuyên bố linh hồn atta và thế giới loka trường tồn qua bốn cách…
Một số đạo sĩ hay bà la môn tuyên bố một phần linh hồn atta và thế giới loka trường tồn và một phần linh hồn atta và thế giới loka không trường tồn qua bốn cách…
Một số đạo sĩ và bà la môn cho rằng thế giới này giới hạn và số khác cho rằng thế giới này vô hạn, vô tận qua bốn cách…
Một số đạo sĩ và bà la môn là những người quanh co, mập mờ, họ nói quanh co qua bốn cách …
Một số đạo sĩ và bà la môn cho rằng mọi thứ tự động phát sinh, mà chẳng có nguyên nhân qua hai cách…
Một số đạo sĩ hay bà la môn suy đoán về quá khứ và chấp chặt vào những tà kiến liên quan đến qua khứ qua 18 cách…
Một số đạo sĩ và bà la môn tin rằng tâm thức vẫn tồn tại sau khi chết và tuyên bố rằng “linh hồn có tâm thức vẫn tồn tại sau khi chết” qua 16 cách…
Một số đạo sĩ và bà la môn tin rằng tâm thức không tồn tại sau khi chết và tuyên bố rằng “linh hồn không có tâm thức vẫn tồn tại sau khi chết” qua tám cách…
Một số đạo sĩ và bà la môn tin rằng nhưng không có sự tồn tại của tâm thức hay không tâm thức sau khi chết và tuyên bố rằng “linh hồn vẫn tồn tại, nhưng không có sự tồn tại của tâm thức hay không tâm thức sau khi chết” qua tám cách…
Một số đạo sĩ và bà la môn tin vào thuyết đoạn tuyệt, cho rằng những chúng sinh đang sống sẽ biến mất, không còn tái sinh trong tương lai qua bảy cách…
Một số đạo sĩ và bà la môn cho rằng những chúng sinh đang sống có thể kinh nghiệm Niết Bàn8“Niết Bàn” mà họ suy diễn là những hạnh phúc thế tục Dục giới hay hỷ, lạc trong thiền Định, không phải Niết Bàn tĩnh lặng mà các bậc Thánh kinh nghiệm qua Minh Sát. trong kiếp này qua năm cách…
Một số đạo sĩ hay bà la môn suy đoán về tương lai và chấp chặt vào những tà kiến liên quan đến tương lai qua 44 cách…
Một số đạo sĩ hay bà la môn suy đoán về quá khứ, hoặc tương lai hoặc cả hai và chấp chặt vào những tà kiến liên quan đến tương lai qua 62 cách.
Tuyên bố như thế là do họ thỏa thích (thọ hỷ) với tà kiến của mình. Vì các đạo sĩ hay bà la môn đáng mến ấy không hiểu và không nhận ra (sự thật), khi kinh nghiệm cảm thọ, họ bị tham ái (vào cảm thọ) khống chế, do vậy vật vã, lo lắng (vì tham ái chấp thủ).
XÚC LÀ NGUYÊN NHÂN – PHASSA PACCAYA
Một số đạo sĩ hay bà la môn tuyên bố linh hồn atta và thế giới loka trường tồn qua bốn cách…
Một số đạo sĩ hay bà la môn tuyên bố một phần linh hồn atta và thế giới loka trường tồn và một phần linh hồn atta và thế giới loka không trường tồn qua bốn cách…
Một số đạo sĩ và bà la môn cho rằng thế giới này giới hạn và số khác cho rằng thế giới này vô hạn, vô tận qua bốn cách…
Một số đạo sĩ và bà la môn là những người quanh co, mập mờ, họ nói quanh co qua bốn cách…
Một số đạo sĩ và bà la môn cho rằng mọi thứ tự động phát sinh, mà chẳng có nguyên nhân qua hai cách…
Một số đạo sĩ hay bà la môn suy đoán về quá khứ và chấp chặt vào những tà kiến liên quan đến qua khứ qua 18 cách…
Một số đạo sĩ và bà la môn tin rằng tâm thức vẫn tồn tại sau khi chết và tuyên bố rằng “linh hồn có tâm thức vẫn tồn tại sau khi chết” qua 16 cách…
Một số đạo sĩ và bà la môn tin rằng tâm thức không tồn tại sau khi chết và tuyên bố rằng “linh hồn không có tâm thức vẫn tồn tại sau khi chết” qua tám cách…
Một số đạo sĩ và bà la môn tin rằng nhưng không có sự tồn tại của tâm thức hay không tâm thức sau khi chết và tuyên bố rằng “linh hồn vẫn tồn tại, nhưng không có sự tồn tại của tâm thức hay không tâm thức sau khi chết” qua tám cách…
Một số đạo sĩ và bà la môn tin vào thuyết đoạn tuyệt, cho rằng những chúng sinh đang sống sẽ biến mất, không còn tái sinh trong tương lai qua bảy cách…
Một số đạo sĩ và bà la môn cho rằng những chúng sinh đang sống có thể kinh nghiệm Niết Bàn9“Niết Bàn” mà họ suy diễn là những hạnh phúc thế tục Dục giới hay hỷ, lạc trong thiền Định, không phải Niết Bàn tĩnh lặng mà các bậc Thánh kinh nghiệm qua Minh Sát. trong kiếp này qua năm cách…
Một số đạo sĩ hay bà la môn suy đoán về tương lai và chấp chặt vào những tà kiến liên quan đến tương lai qua 44 cách…
Một số đạo sĩ hay bà la môn suy đoán về quá khứ, hoặc tương lai hoặc cả hai và chấp chặt vào những tà kiến liên quan đến tương lai qua 62 cách.
Tuyên bố như thế là do họ thỏa thích (thọ hỷ) với tà kiến của mình. Và cảm thọ phát sinh vì có xúc.
KHÔNG THỂ KINH NGHIỆM CẢM THỌ NẾU KHÔNG CÓ XÚC
NETAṂ ṬHĀNAṂ VIJJATI
Một số đạo sĩ hay bà la môn tuyên bố linh hồn atta và thế giới loka trường tồn qua bốn cách…
Một số đạo sĩ hay bà la môn tuyên bố một phần linh hồn atta và thế giới loka trường tồn và một phần linh hồn atta và thế giới loka không trường tồn qua bốn cách…
Một số đạo sĩ và bà la môn cho rằng thế giới này giới hạn và số khác cho rằng thế giới này vô hạn, vô tận qua bốn cách…
Một số đạo sĩ và bà la môn là những người quanh co, mập mờ, họ nói quanh co qua bốn cách…
Một số đạo sĩ và bà la môn cho rằng mọi thứ tự động phát sinh, mà chẳng có nguyên nhân qua hai cách…
Một số đạo sĩ hay bà la môn suy đoán về quá khứ và chấp chặt vào những tà kiến liên quan đến qua khứ qua 18 cách…
Một số đạo sĩ và bà la môn tin rằng tâm thức vẫn tồn tại sau khi chết và tuyên bố rằng “linh hồn có tâm thức vẫn tồn tại sau khi chết” qua 16 cách…
Một số đạo sĩ và bà la môn tin rằng tâm thức không tồn tại sau khi chết và tuyên bố rằng “linh hồn không có tâm thức vẫn tồn tại sau khi chết” qua tám cách…
Một số đạo sĩ và bà la môn tin rằng nhưng không có sự tồn tại của tâm thức hay không tâm thức sau khi chết và tuyên bố rằng “linh hồn vẫn tồn tại, nhưng không có sự tồn tại của tâm thức hay không tâm thức sau khi chết” qua tám cách…
Một số đạo sĩ và bà la môn tin vào thuyết đoạn tuyệt, cho rằng những chúng sinh đang sống sẽ biến mất, không còn tái sinh trong tương lai qua bảy cách…
Một số đạo sĩ và bà la môn cho rằng những chúng sinh đang sống có thể kinh nghiệm Niết Bàn10“Niết Bàn” mà họ suy diễn là những hạnh phúc thế tục Dục giới hay hỷ, lạc trong thiền Định, không phải Niết Bàn tĩnh lặng mà các bậc Thánh kinh nghiệm qua Minh Sát. trong kiếp này qua năm cách…
Một số đạo sĩ hay bà la môn suy đoán về tương lai và chấp chặt vào những tà kiến liên quan đến tương lai qua 44 cách…
Một số đạo sĩ hay bà la môn suy đoán về quá khứ, hoặc tương lai hoặc cả hai và chấp chặt vào những tà kiến liên quan đến tương lai qua 62 cách.
Tuyên bố như thế là do họ thỏa thích (thọ hỷ) với tà kiến của mình. Và cảm thọ phát sinh mà không có xúc là điều không thể xảy ra. (Nói cách khác: Cảm thọ không phát sinh nếu không có xúc, hoặc: Không thề kinh nghiệm cảm thọ nếu không có xúc.)
VÒNG ĐAU KHỔ PHÁT SINH DO CÁC TÀ KIẾN
DIṬṬHIGATIKĀDHIṬṬHĀNAVAṬṬA KATHĀ
Một số đạo sĩ hay bà la môn tuyên bố linh hồn atta và thế giới loka trường tồn qua bốn cách…
Một số đạo sĩ hay bà la môn tuyên bố một phần linh hồn atta và thế giới loka trường tồn và một phần linh hồn atta và thế giới loka không trường tồn qua bốn cách…
Một số đạo sĩ và bà la môn cho rằng thế giới này giới hạn và số khác cho rằng thế giới này vô hạn, vô tận qua bốn cách…
Một số đạo sĩ và bà la môn là những người quanh co, mập mờ, họ nói quanh co qua bốn cách…
Một số đạo sĩ và bà la môn cho rằng mọi thứ tự động phát sinh, mà chẳng có nguyên nhân qua hai cách…
Một số đạo sĩ hay bà la môn suy đoán về quá khứ và chấp chặt vào những tà kiến liên quan đến qua khứ qua 18 cách…
Một số đạo sĩ và bà la môn tin rằng tâm thức vẫn tồn tại sau khi chết và tuyên bố rằng “linh hồn có tâm thức vẫn tồn tại sau khi chết” qua 16 cách…
Một số đạo sĩ và bà la môn tin rằng tâm thức không tồn tại sau khi chết và tuyên bố rằng “linh hồn không có tâm thức vẫn tồn tại sau khi chết” qua tám cách…
Một số đạo sĩ và bà la môn tin rằng nhưng không có sự tồn tại của tâm thức hay không tâm thức sau khi chết và tuyên bố rằng “linh hồn vẫn tồn tại, nhưng không có sự tồn tại của tâm thức hay không tâm thức sau khi chết” qua tám cách…
Một số đạo sĩ và bà la môn tin vào thuyết đoạn tuyệt, cho rằng những chúng sinh đang sống sẽ biến mất, không còn tái sinh trong tương lai qua bảy cách…
Một số đạo sĩ và bà la môn cho rằng những chúng sinh đang sống có thể kinh nghiệm Niết Bàn11“Niết Bàn” mà họ suy diễn là những hạnh phúc thế tục Dục giới hay hỷ, lạc trong thiền Định, không phải Niết Bàn tĩnh lặng mà các bậc Thánh kinh nghiệm qua Minh Sát. trong kiếp này qua năm cách…
Một số đạo sĩ hay bà la môn suy đoán về tương lai và chấp chặt vào những tà kiến liên quan đến tương lai qua 44 cách…
Một số đạo sĩ hay bà la môn suy đoán về quá khứ, hoặc tương lai hoặc cả hai và chấp chặt vào những tà kiến liên quan đến tương lai qua 62 cách.
Họ kinh nghiệm cảm thọ vì xúc liên tục sinh khởi nơi sáu căn. Khi có thọ, ái (tham ái) sinh khởi. Khi có ái, thủ (chấp thủ, tức tham ái ở mức độ cao) sinh khởi. Khi có thủ, hữu (hành động tạo nghiệp) sinh khởi. Khi có hữu, tái sinh sinh khởi. Khi có tái sinh, già, chết, buồn bã, than khóc, khổ thân, khổ tâm sinh khởi.
VÒNG TÁI SINH NGƯNG NGHỈ
(VIVAṬṬA KATHĀDI)
Khi hiểu nguyên nhân làm phát sinh xúc ở sáu căn, sự ngưng nghỉ, sự thỏa thích nơi xúc, hiểm nguy, sự giải thoát đúng như chúng là vậy, tỳ khưu hiểu giáo pháp cao thượng hơn các tà kiến này.
Các đạo sĩ hay bà la môn suy đoán về quá khứ, tương lai hay cả hai. Vì chấp chặt vào những suy đoán này mà họ suy diễn ra các tà kiến liên quan đến quá khứ, tương lai hay cả hai như thế. Dù suy đoán và chấp chặt vào tà kiến nào, các đạo sĩ hay bà la môn bị gom trọn trong lưới 62 tà kiến. Dù là ngoi lên hay chìm xuống, họ ngoi lên hay chìm xuống trong lưới 62 tà kiến.
Như người đánh cá giỏi hay người làm của ông thả tấm lưới tốt (không bị rách lũng) nơi hồ nước nhỏ, nghĩ rằng: “Tất cả sinh vật lớn nơi hồ nước này sẽ bị lưới và kẹt trong lưới. Chúng có thể nhảy lên hay nằm im (nhưng không thể thoát ra) trong cái lưới chắc chắn này.” Tương tự như thế, khi các đạo sĩ hay bà la môn suy đoán về quá khứ, tương lai hay cả hai, họ chấp chặt vào những suy đoán này và suy diễn ra các tà kiến qua 62 cách. Những tà kiến đó được gom trọn trong bài giảng về 62 tà kiến này. Bất kỳ tà kiến nào phát sinh, tà kiến đó đã được liệt kê trong bài giảng này.
Thân của Như Lai đang đứng đây nhưng những liên kết đưa đến tái sinh đã bị cắt đứt. Khi thân này còn, chư thiên và Phạm thiên còn thấy Như Lai. Nhưng khi thân này nằm xuống và tuổi thọ chấm dứt, chư thiên và Phạm thiên không còn thấy Như Lai nữa. Như cái cuống lủng lẵng những trái xoài bị cắt thì các trái xoài dính vào cuống đó cũng bị cắt theo, mọi liên kết với thân đưa đến tái sinh đã bị cắt đứt. Khi thân này còn, chư thiên và Phạm thiên còn thấy Như Lai. Nhưng khi thân này nằm xuống và tuổi thọ chấm dứt, chư thiên và Phạm thiên không còn thấy Như Lai nữa.
Đại đức Ānanda thốt lên:
- – Tuyệt vời thay! Tuyệt vời thay. Thưa Thế Tôn, tên của bài pháp này là gì ạ?
- – Này Ānanda, ông có thể gọi tên của bài pháp này là atthajāla – lưới lợi lạc, dhammajāla – lưới pháp, brahmajāla – lưới tối thưoọng, diṭṭhijāla – lưới tà kiến, hay anuttara saṅgāmavijaya – thắng lợi vô song trong chiến trận.
Đức Phật đã nói thế và các tỳ khưu thỏa thích vui mừng với những gì Ngài dạy. Trong khi Đức Phật tuyên giảng bài pháp này, hệ thống 10.000 thế giới rung chuyển, chấn động.
GIẢI THÍCH:
CÁC TÀ KIẾN LIÊN QUAN ĐẾN QUÁ KHỨ:
- Liên quan đến quá khứ, suññatapakasana – trống vắng là vì chỉ có cảm thọ mà chẳng có ai đằng sau cảm nhận cảm thọ, chỉ có vô minh và tham ái chứ chẳng có ai đằng sau thực hiện (kāraka). Do vậy các pháp vắng bóng linh hồn. Hiểu rõ như thế, Như Lai loại trừ tham ái vượt lên tham ái nơi cảm thọ.
- “Suy diễn về quá khứ”: thoạt đầu, suy nghĩ bắt nguồn từ tham ái và tà kiến (purimasiddhehi taṅhādiṭṭhikappehi kappetvā) và khi suy nghĩ này liên tục phát sinh cùng với nhiều suy gẫm (do tham ái và tà kiến kích động), tà kiến hình thành. Suy gẫm về quá khứ cần được hiểu là: họ liên tục suy gẫm (sai lạc) về các uẩn thuộc quá khứ qua lăng kính của tham ái và tà kiến.
- Linh hồn atta và thế giới loka là danh từ chế định, tục đế (paññātimattha), không phải sự thật tuyệt đối (paramattha).
- “Không những hiểu rõ các tà kiến này, Như Lai còn hiểu các pháp cao thượng hơn.” Các pháp cao thượng hơn = giới, định và trí tuệ thượng thừa (sabbaññuta ñāṇa). Trí tuệ thượng thừa phát sinh dựa trên sự loại trừ mọi ô nhiễm ngủ ngầm (āsavakkhayāṭaṇa) và 10 loại trí tuệ của chư Phật…
- “Ta thấy hiểu rõ các pháp này và sự hiểu biết này không bị sai lạc.” Có hai loại trí tuệ: trí tuệ thật và trí tuệ giả (do vô minh dối lừa, lầm tưởng). Sự hiểu biết không sai lạc là loại trí tuệ thật sự, không phải loại trí tuệ giả do tham ái, tà kiến và ngã mạn vẽ vời, tạo ra.
- “Hiểu rõ nguyên nhân phát sinh của các cảm thọ, sự ngưng nghỉ của cảm thọ, sự thỏa thích nơi cảm thọ, hiểm nguy nơi cảm thọ và sự giải thoát khỏi cảm thọ đúng như nó là vậy.”
- – Hiểu rõ nguyên nhân phát sinh của các cảm thọ: hiểu vô minh, tham ái, nghiệp và xúc là nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh các cảm thọ; và hiểu rõ khi sinh khởi, nó có đặc tính gì (nibbattilakkhaṇa). Hiểu rõ nguyên nhân là hiểu rõ khi cái này phát sinh, cái kia phát sinh; khi cái này sinh khởi, cái kia sinh khởi.
- – Hiểu rõ sự ngưng nghỉ của cảm thọ: Hiểu rõ khi các điều kiện phát sinh ra cảm thọ (vô minh, tham ái, nghiệp và xúc) không còn; và hiểu rõ bản chất đổi thay (vipariṇāmalakkhaṇa) của cảm thọ. Hiểu rõ sự ngưng nghỉ là hiểu rõ khi cái này không còn, cái kia không còn; với sự biến mất của cái này, cái kia biến mất. Đổi thay, tức là sự biến mất, là đặc tính của sự ngưng nghỉ.
- – Hiểu rõ sự thỏa thích nơi cảm thọ: sự thích thú, vui mừng phát sinh do có cảm thọ là sự thỏa thích nơi cảm thọ. Cảm thọ thích thú, vui mừng sinh khởi trước đó là điều kiện làm phát sinh cảm thọ thích thú, vui mừng sau đó.
- – Hiểu rõ hiểm nguy nơi cảm thọ: vô thường, thay đổi, có bản chất khổ là hiểm nguy nơi cảm thọ. Khổ thân và khổ tâm là khổ (dukkhadukkha), thọ hỷ (thỏa thích vui mừng) có bản chất thay đổi không tồn tại lâu (vipariṇāmadukkha) nên gọi là khổ, và mọi cảm thọ phát sinh duyên vào điều kiện (saṅkhāradukkha) nên gọi là khổ.
- – Hiểu rõ sự giải thoát khỏi cảm thọ: loại trừ, không còn tham ái nơi cảm thọ là sự giải thoát khỏi cảm thọ. Không từ bỏ tham ái dính mắc phát sinh với cảm thọ là dính mắc vào cảm thọ. Khi từ bỏ tham ái dính mắc phát sinh với cảm thọ là giải thoát khỏi cảm thọ.
Khi nói đến cảm thọ, các pháp đồng sinh với cảm thọ (sắc, tưởng, hành, thức) cũng bao gồm trong đó. Vậy tham ái dính mắc cảm vào thọ cũng được hiểu là tham ái dính mắc vào năm uẩn (ngũ uẩn thủ). Nơi đây, Đức Phật dạy tham ái dính mắc vào năm uẩn là khổ. Vô minh, tham ái, nghiệp và xúc là nguyên nhân gây ra đau khổ. Sự giải thoát khỏi cảm thọ là sự chấm dứt khổ. Và hiểu đúng như nó là vậy là con đường đưa đến sự chấm dứt khổ.
- “Hiểu đúng như nó là vậy”: Hiểu rõ nguyên nhân phát sinh… qua tuệ Minh Sát và qua Thánh đạo tuệ.
- – Hiểu qua tuệ Minh Sát: hiểu đặc tính vô thường-khổ-vô ngã khi quan sát năm uẩn.
- – Hiểu qua Thánh đạo tuệ: khi hiểu biết vô thường-khổ-vô ngã chín mùi, Thánh đạo tuệ phát sinh lấy Niết Bàn làm đối tượng. Tuệ Minh Sát trực tiếp quan sát năm uẩn, trong khi Thánh đạo tuệ loại trừ vô minh (không hiểu đặc tính) về năm uẩn vào lúc kinh nghiệm Niết Bàn.
- “Như Lai thoát khỏi mọi tham ái”: Ngài chứng đắc các Thánh đạo quả, trở thành Phật.
TÀ KIẾN TIN MỘT PHẦN VÀO TRƯỜNG TỒN:
- Theo giáo phái Jain: cái gì có sinh, diệt và bền vững, cái đó có thể trường tồn, hoặc không trường tồn, hoặc khó có thể nói là trường tồn hay không trường tồn.
Có người cho rằng: “Khi cái bình bằng vàng được làm thành những đồ trang sức, cái bình biến mất và đồ trang sức phát sinh; nhưng vàng vẫn vậy”. Hay cho rằng: “Linh hồn và thế giới này hiện hữu và là sự thật tuyệt đối chân đế; nhưng linh hồn và thế giới có bản chất trường tồn, hoặc không trường tồn, hoặc khó có thể nói là trường tồn hay không trường tồn. Như cây đèn sinh diệt, nhưng không thể nói cây đèn trường tồn, hoặc không trường tồn, hoặc khó có thể nói là trường tồn hay không trường tồn”.
Chúng ta có thể phản bác lập luận này như sau: “Cái gì là vàng trong cái bình và đồ trang sức đó? Nếu vàng là vật chất, là sắc pháp thì nó phải có bản chất vô thường, giống như âm thanh (là vật chất, là sắc pháp) có bản chất vô thường vậy. Nếu cho rằng ‘sắc uẩn chỉ là sự thật thế gian tục đế’, thì chẳng thể nói uẩn này là vô thường, là thường còn, hay trường tồn được. Và cây đèn có bản chất sinh diệt, nên cây đèn quả thật có bản chất vô thường.” Do vậy, tà kiến tin một phần vào trường tồn của giáo phái Jain có thể phản bác như thế.
- Liên quan đến chúng sinh, một số người khác cho rằng: đấng tạo hóa issara là trường tồn nhưng chúng sinh do đấng tạo hóa tạo ra không trường tồn. Những tín đồ của Kaṇāda cho rằng: nguyên tử bền vững trường tồn nhưng phân tử… không trường tồn và sự kết hợp của nhiều nguyên tử là trường tồn. Cũng có người cho rằng mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và các cơ quan là thay đổi nhưng tâm thức là trường tồn.
- Phạm thiên Ābhassara: Khi hệ thống thế giới này bị lửa hũy hoại, các cảnh giới thấp bị cháy rụi, chỉ còn các cảnh giới cao bắt đầu từ cõi Sắc giới Ābhassara trở lên. Vào lúc này, Ābhassara là cõi thấp nhất, cho nên nói hầu hết chúng sinh trú ở nơi này. Do vậy, những chúng sinh tạo nghiệp đưa đến cõi Dục giới sẽ tái sinh vào hệ thống thế giới khác, nơi không rơi vào thời điểm hoại diệt thu nhỏ như thế này.
Cảnh giới Phạm thiên mới hình thành và mở rộng với nhiều ngọc ngà đá quý… do nhiệt độ (nơi này) cùng với phước báu của các chúng sinh sắp tái sinh vào đây. Đây là cảnh giới Brahma (gồm Pārisajjabrahma, Purohitabrahma và Mahābrahma theo thứ tự từ thấp đến cao) tương ứng với tầng thiền Định thứ nhất.
Do tham ái dính mắc vào cõi Ābhassara, và do tuổi thọ đã hết hay phước báu đã cạn, Phạm thiên Ābhassara qua đời và tái sinh vào cảnh giới Phạm thiên Brahma thấp hơn, mới hình thành. Các Phạm thiên có nhiều phước báu qua đời khi tuổi thọ hết (trường thọ), nhưng Phạm thiên có ít phước báu qua đời khi phước báu cạn (trước khi tuổi thọ hết).
Vị Phạm thiên đầu tiên chợt nghĩ: “Ta là Phạm thiên, là thống lĩnh, đấng tạo hóa…” Trong các kiếp trước vị Phạm thiên này đã có hiểu biết về nghiệp quả, nhưng hiểu biết này không đứng vững trước các tà kiến thế gian. Bị xúi dục bởi suy nghĩ rằng mình có thần thông tạo hóa, vị này đã rơi vào tà kiến về đấng tạo hóa.
- Một số chư thiên Khiddapadosika mãi mê vui chơi, đắm chìm trong ngũ dục đến mức quên cả ăn uống, họ qua đời ở cõi này. (Chú giải không nói chư thiên này thuộc cõi nào.) Họ có thân thể vi tế tuy nhiên lửa tiên hóa thức ăn lại rất mạnh. Do vậy, khi lỡ bữa ăn, dù vội vã ăn ngay, họ không sống nổi. Khác với con người: thân thể thô nhưng lửa tiên hoá thức ăn yếu, nên chúng ta có thể sống trong bảy ngày dù chỉ uống nước hay cháo lỏng trong. Tương tự chư thiên Khiddapadosika, các chư thiên Manopadosika có thân thể vi tế. Khi vị này nổi sân và sân hận trở nên mạnh mẽ, nó đốt cháy tim căn khiến vị này qua đời.
- “Các vị đạo sĩ và bà la môn là nhà lô gíc, lý luận, cho rằng: Cái gọi là mắt, tai, mũi, lưỡi và thân là linh hồn không tồn tại vĩnh viễn. Nhưng cái gọi là tâm tồn tại vĩnh viễn, và không đổi thay.” Người này thấy mắt, tai… hư hao, thay đổi; nhưng không có khả năng thấy tâm thức thay đổi: cái trước mất đi và cái sau sinh khởi. Hơn nữa, vì sự sinh khởi của tâm trong hiện tại rõ ràng nổi bật, nên người này không nhận biết có tâm sinh khởi trong sát na vừa qua. Ngoài ra, vì sự sinh khởi mạnh và rõ hơn sự biến mất, nên người này ngỡ rằng tâm thức không mất đi. Chỉ hay biết tâm đang sinh khởi trong hiện tại, nhưng không nhận ra tâm này biến mất và tâm khác phát sinh, người này suy diễn rằng chỉ có một loại tâm thức và tâm thức này tồn tại vĩnh viễn.
QUANH CO MẬP MỜ – AMARĀVIKKHEPA:
- “Không biết rõ cái gì là tốt đẹp thiện lành và cái gì là bất thiện xấu xa, tham ái, sân hận có thể phát sinh trong tâm ta.” Hiểu biết tốt xấu là kiến thức căn bản về nghiệp và quả. Vậy đây là loại người mù mờ, không có trí tuệ.
- “Khi tham ái sân hận phát sinh, ta có thể bị quấn vào đó. Bị quấn vào đó, ta sẽ gặp rắc rối, đau khổ.” Không rõ tốt xấu, khi được hỏi, người này có thể trả lời đúng hay sai. Trả lời đúng và được khen thì vui thích, tham thích phát sinh. Trả lời sai và bị chỉ trích thì bực bội, sân hận phát sinh. Hoặc do người này bám chấp vào quan điểm của mình, như đĩa đeo bám không muốn buông, và khi bị chỉ trich thì sân hận phát sinh như rắn độc, muốn hũy hoại người chỉ trích. Vậy khi tham ái hay sân hận phát sinh, người này bị quấn vào đó và đau khổ.
“NHỮNG TÀ KIẾN ĐƯỢC GOM TRỌN TRONG BÀI GIẢNG VỀ 62 TÀ KIẾN NÀY. BẤT KỲ TÀ KIẾN NÀO PHÁT SINH, TÀ KIẾN ĐÓ ĐÃ ĐƯỢC LIỆT KÊ TRONG BÀI GIẢNG NÀY.”
- – Đức Phật giảng về các tà kiến rải rác trong kinh Sa Môn quả và các bài kinh khác. Và trong bài kinh này, Ngài tuyên bố rằng dù là tà kiến gì, chúng rơi vào một trong 62 tà kiến. Vậy tà kiến không có quả của nghiệp (akiriyavāda), không có nguyên nhân (ahetukavāda), đoạn tuyệt (natthikavāda), đức tin có thần issara, có tạo hóa (pajāpati), Primordial, thời gian… đều nằm trong 62 tà kiến này và được chia làm ba nhóm.
- – Học thuyết của giáo chủ Pūraṇa Kassapa cho rằng “không có quả của nghiệp và cho rằng mọi hành động tốt xấu đều không trổ quả và vững vàng như đỉnh núi” thuộc thuyết trường tồn. Học thuyết của Pakudha Kaccāyana cho rằng bảy nhóm… vững vàng như đỉnh núi cũng thuộc thuyết trường tồn. Học thuyết của giáo chủ Makkhali Gosāla cho rằng “không có quả của nghiệp, không có nguyên nhân làm phát sinh ô nhiễm (và thanh lọc) chúng sinh” thuộc thuyết phát sinh ngẫu nhiên, tự sinh khởi. Học thuyết của giáo chủ Ajita Kesakambala cho rằng không có thế giới nào sau đó và rằng sau khi thân hoại mạng chung, kẻ dại người khôn là như nhau thuộc thuyết đoạn tuyệt. Học thuyết của giáo chủ Nātaputta về bốn cách kiểm soát lại rất dông dài về bảy điều có thể tiên đoán nên thuộc thuyết quanh co, giống như học thuyết của giáo chủ Sañjaya. Học thuyết cho rằng linh hồn và thế giới là một hoặc linh hồn và thế giới khác nhau thuộc tà kiến về linh hồn (dù là sắc hay vô sắc) trường tồn không hư hoại sau khi chết. Học thuyết cho rằng “Đức Phật vẫn tồn tại sau khi qua đời” và “có những chúng sinh hóa sinh” thuộc thuyết trường tồn. Học thuyết “Đức Phật không tồn tại sau khi qua đời” và “không có những chúng sinh hóa sinh” thuộc thuyết đoạn tuyệt. Học thuyết “Đức Phật tồn tại lẫn không tồn tại sau khi qua đời” và “có những chúng sinh hóa sinh lẩn không hóa sinh” thuộc thuyết trường tồn một phần. Học thuyết “Đức Phật chẳng tồn tại cũng chẳng phải không tồn tại sau khi qua đời” và “chẳng có chúng sinh hóa sinh cũng chẳng có chúng sinh không hóa sinh” thuộc thuyết quanh co. Học thuyết về thần Issara, đấng tạo hóa (pajāpati), Primordial, thời gian… và học thuyết của giáo chủ Kaṇāda thuộc thuyết trường tồn một phần. Học thuyết về tự nhiên, định mệnh và cơ hội thuộc thuyết phát sinh ngẫu nhiên, tự sinh khởi.
- “Khi hiểu …đúng như chúng là vậy, tỳ khưu hiểu giáo pháp cao thượng hơn các tà kiến này.” Hiểu đúng như chúng là vậy là trí tuệ hiểu biết có được qua thiền Minh Sát. Người có trí tuệ hiểu biết đúng đắn như thế cũng hiểu giáo pháp cao thượng hơn gồm: giới, định, trí tuệ, sự giải thoát và cao nhất là quả vị A La Hán. Người có trí tuệ hiểu biết đúng đắn là các bậc Thánh, người học Phật pháp, người chứng đắc tuệ Minh Sát. Nhưng bài kinh này được giảng nhắm đến quả vị A La Hán; do vậy hiểu giáo pháp cao thượng là loại hiểu biết tột bậc của bậc A La Hán. Theo Chú giải: “Ai hiểu? Bậc không còn ô nhiễm A La Hán.”
- “Dù suy đoán và chấp chặt vào tà kiến nào, các đạo sĩ hay bà la môn bị gom trọn trong lưới 62 tà kiến. Dù là ngoi lên hay chìm xuống, họ ngoi lên hay chìm xuống trong lưới 62 tà kiến.” “Chìm xuống hay ngoi lên” là tái sinh vào cảnh giới đau khổ hay hữu phúc, là chấp chặt vào tà kiến và đi quá xa, là dính mắc vào tà kiến liên quan đến quá khứ, tương lai…
- “Tên của bài pháp này là atthajāla – lưới lợi lạc, dhammajāla – lưới pháp, brahmajāla – lưới tối thượng, diṭṭhijāla – lưới tà kiến, hay anuttara saṅgāmavijaya – thắng lợi vô song trong chiến trận.”
- – Theo Chú giải, câu này có nghĩa: “Này Ānanda, vì lợi lạc của thế giới này và thế giới sau, ta giảng giải chi tiết bài pháp này. Do vậy, ông có thể gọi bài pháp này là atthajāla – lưới lợi lạc. Vì nhiều sợi chỉ giáo pháp được nêu ra nơi đây, ông có thể gọi bài pháp này là dhammajāla – lưới pháp. Vì trí tuệ “brahma” có nghĩa là “seṭṭha – tối thượng” được chỉ ra nơi đây, ông có thể gọi bài pháp này là brahmajāla – lưới tối thượng. Vì 62 tà kiến được nêu lên nơi đây, ông có thể gọi bài pháp này là diṭṭhijāla – lưới tà kiến. Và vì sau khi nghe bài pháp này, người nghe có thể tiêu diệt ma vương chư thiên, ma vương ngũ uẩn, ma vương thần chết và ma vương ô nhiễm, ông có thể gọi bài pháp này là anuttara saṅgāmavijaya – thắng lợi vô song trong chiến trận.”
- – Theo Chú giải, câu này cũng có thể hiểu theo một cách thức khác: Gọi là atthajāla- lưới ý nghĩa vì bài pháp này có ý nghĩa (attha) hoàn hảo. Gọi là dhammajāla- lưới pháp vì bài pháp này có lối diễn đạt hoàn hảo và vì giảng các pháp này không thể chê trách (như giới, định…) Gọi là Brahmajāla- lưới tối thượng vì bài pháp này giảng về Thánh đạo, Thánh quả và Niết Bàn, là những pháp “brahma – tối thượng”. Gọi là diṭṭhijāla- lưới tà kiến vì bài pháp này nêu lên chánh kiến bằng cách bác bỏ các tà kiến và chỉ ra sự trống vắng (không linh hồn…) trong các tà kiến đó. Gọi là anuttara saṅgāmavijaya – thắng lợi vô song trong chiến trận vì bài pháp này đưa ra những cách thức để phá bỏ các tà kiến của các giáo phái khác.
Qua đó, chúng ta nhận ra trí tuệ thượng thừa, thâm sâu của Đức Phật không ai có thể sánh kịp. Ngài quả thực đã dẹp tan các tà kiến tăm tối vô minh, ví như mặt trời xua tan bóng đêm vậy.
- “Trong khi Đức Phật tuyên giảng bài pháp này, hệ thống 10.000 thế giới rung chuyển, chấn động.” Có tám nguyên nhân gây ra động đất. Ở đây, khi tất cả 62 tà kiến được Đức Phật chỉ ra, tháo dỡ, gỡ rối; hệ thống thế giới rung chuyển như một dấu hiệu vui mừng.
- 1Theo Chú giải, nhà lô gíc lý luận gồm 4 loại: Anussutika là ngưòi cho rằng Tiền thân Đức Phật là con voi Vesantara và giờ đây thành Phật, thi phải có linh hồn truờng tồn; Jātissara takkika là người nhớ một số kiếp quá khứ của mình nên cho rằng linh hồn này không chết mà trường tồn; lābhī takkika là người cho rằng kiếp quá khứ và tương lai của mình ắt hạnh phúc vì kiếp này mình hạnh phúc; suddha takkika là người suy diện rằng: Nếu cái này tồn tại thì cái kia tồn tại. Họ tìm ra bằng chứng cho lý luận của họ rằng: “Nếu như có cái gì thay đổi vô thường, thì tạo nghiệp là một người và lãnh quả là một người khác. Vậy thì nghiệp đã tạo phải bị hủy hoại và người ta gánh nghiệp mà mình không tạo. Nhưng vì mọi thứ là trường tồn nên người tạo nghiệp cũng là người lãnh nghiệp, không có sự lầm lẫn sai sót được.” ↩︎
- 2Hệ thống thế giới này trải qua nhiều chu kỳ hình thành mở rộng và bị hũy hoại thu nhỏ như thế. ↩︎
- 3Cõi thứ ba trong ba cõi Nhị thiền. ↩︎
- 4Một trong ba cõi Nhất thiền. ↩︎
- 5Dựa vào kinh nghiệm thiền Định lấy dĩa đất kasina làm đề mục, vị này thấy quang tướng nimitta nhỏ và giới hạn (vì việc tu tập chưa phát triển cao). Do vậy, vị này suy diễn như thế. ↩︎
- 6Dựa vào kinh nghiệm thiền Định lấy dĩa đất kasina làm đề mục, vị này thấy quang tướng nimitta lớn và mở rộng (do tu tập tiến triển cao hơn). Do vậy, vị này suy diễn như thế. ↩︎
- 7“Niết Bàn” mà họ suy diễn là những hạnh phúc thế tục Dục giới hay hỷ, lạc trong thiền Định, không phải Niết Bàn tĩnh lặng mà các bậc Thánh kinh nghiệm qua Minh Sát. ↩︎
- 8“Niết Bàn” mà họ suy diễn là những hạnh phúc thế tục Dục giới hay hỷ, lạc trong thiền Định, không phải Niết Bàn tĩnh lặng mà các bậc Thánh kinh nghiệm qua Minh Sát. ↩︎
- 9“Niết Bàn” mà họ suy diễn là những hạnh phúc thế tục Dục giới hay hỷ, lạc trong thiền Định, không phải Niết Bàn tĩnh lặng mà các bậc Thánh kinh nghiệm qua Minh Sát. ↩︎
- 10“Niết Bàn” mà họ suy diễn là những hạnh phúc thế tục Dục giới hay hỷ, lạc trong thiền Định, không phải Niết Bàn tĩnh lặng mà các bậc Thánh kinh nghiệm qua Minh Sát. ↩︎
- 11“Niết Bàn” mà họ suy diễn là những hạnh phúc thế tục Dục giới hay hỷ, lạc trong thiền Định, không phải Niết Bàn tĩnh lặng mà các bậc Thánh kinh nghiệm qua Minh Sát. ↩︎