(Sāmaññaphala Sutta, Dīgha Nikāya I.2)
Tôi nghe như vầy… Thuở nọ, Đức Phật cùng 1.250 vị tỳ khưu trú tại Rājagaha (Vương xá) nơi vườn xoài của Jīvaka Komārabhacca. Vào ngày Bố Tát rằm tháng tư Komudī, vua Ajātasattu (A Xà Thế) xứ Magadha, con hoàng hậu Videhī, đang ngồi trên lầu cao với nhiều đại thần vây quanh. Bấy giờ, vua cảm hứng nói rằng:
– Đẹp thay ánh trăng đêm rằm! Hữu tình thay ánh trăng đêm rằm! Tĩnh lặng thay ánh trăng đêm rằm! Huyền diệu thay ánh trăng đêm rằm! Đêm nay chúng ta nên đến đảnh lễ vị tỳ khưu hay bà la môn nào để tâm được thanh tịnh?
Nghe vậy, một đại thần thưa:
– Tâu Đại vương, Pūrana Kassapa là vị giáo chủ nổi tiếng, được hội chúng tôn kính. Vị ấy lớn tuổi, xuất gia đã lâu, là trưởng lão, đang sống phần cuối của cuộc đời. Đại vương hãy đến đảnh lễ vị này. Đảnh lễ Pūrana Kassapa có thể khiến tâm Đại vương thanh tịnh.
Nhưng vua lặng yên, không nói gì.
Các đại thần khác lần lượt tâu rằng:
– Tâu Đại vương, Makkhali Gosāla … Ajita Kesakambala … Pakudha Kaccāyana … Sañjaya Belaṭṭhaputta … Nigaṇṭha Nātaputta… là vị giáo chủ nổi tiếng, được hội chúng tôn kính. Các vị ấy đều lớn tuổi, xuất gia đã lâu, là trưởng lão, đang sống phần cuối của cuộc đời. Đại vương hãy đến đảnh lễ các vị này. Đảnh lễ Makkhali Gosāla … Ajita Kesakambala … Pakudha Kaccāyana … Sañjaya Belaṭṭhaputta … Nigaṇṭha Nātaputta…có thể khiến tâm Đại vương thanh tịnh.
Nhưng vua vẫn lặng yên, không đáp.
Lúc này, Jīvaka Komārabhacca ngồi cách nhà vua không xa, vẫn giữ im lặng. Vua hỏi:
– Này Jīvaka, sao ông im lặng thế?
– Tâu Đại vương, Thế Tôn, bậc đáng cung kính, Phật Chánh Đẳng Chánh Giác hiện đang cùng 1.250 tỳ khưu đang trú tại Rājagaha (Vương Xá), nơi vườn xoài của thần. Tiếng lành của Ngài được vang xa rằng:
|
Ngài được gọi là: |
Iti pi so Bhagavā: |
|
Bậc A La Hán |
Arahaṁ |
|
Đấng Chánh Biến Tri do Ngài tự ngộ |
Sammāsambuddho |
|
Bậc có trí tuệ và phẩm hạnh hoàn hảo |
Vijjācaraṇasampanno |
|
Bậc nói lời chân chánh, đi đến nơi thanh tịnh |
Sugato |
|
Bậc thông suốt tam giới |
Lokavidū |
|
Bậc có đức hạnh không ai sánh bằng, có khả năng tế độ người hữu duyên cần tế độ |
Anuttaro Purisadammasārathi |
|
Bậc Thầy của nhân loại và chư thiên |
Satthādevamanussānaṁ |
|
Đức Phật, bậc đã giác ngộ |
Buddho |
|
Đức Thế Tôn |
Bhagavāti. |
Đại vương hãy đến đảnh lễ Ngài. Đảnh lễ Ngài có thể khiến tâm Đại vương được thanh tịnh.
– Vậy ông hãy chuẩn bị voi để lên đường.
– Tuân lệnh Đại vương.
Rồi Jīvaka thắng 500 con voi cái, cùng với voi chúa dẫn đầu và trình lên vua. Vua cho 500 hoàng hậu cùng phi tần ngồi trên 500 con voi theo sau, còn mình ngồi trên voi chúa dẫn đầu. Đám rước giương cao đuốc, cùng rời Rājagaha tiến đến vườn xoài của Jīvaka. Khi gần đến nơi, vua Ajātasattu bỗng sinh lòng sợ hãi, hỏi rằng:
– Này Jīvaka, ngươi không gạt ta chứ? Này Jīvaka, ngươi không phản ta chứ? Ngươi không giao nộp ta cho kẻ thù chứ? Làm sao mà một đại chúng đông đảo 1.250 người lại chẳng có lấy một tiếng ho, hắt hơi hay tiếng động nhỏ nào?
– Xin Đại vương đừng lo lắng. Tôi không gạt ngài, không phản ngài, không nạp ngài cho kẻ thù nào cả. Đại vương hãy tiến tới sảnh lớn nơi có những ngọn đèn đang thắp sáng.
Rồi vua cho voi tiến tới. Đến nơi voi không đi được nữa, vua bước xuống, tiến tới nơi có những ngọn đèn đang thắp sáng và hỏi:
– Này Jīvaka, Đức Phật hiện đang ở đâu?
– Tâu Đại Vương, Ngài đang ngồi dựa vào cây cột ở giữa, ngay trước mặt chư tăng, mặt hướng về phía Tây.
Vua bước đến gần, đứng sang một bên, quan sát hội chúng tỳ khưu ngồi lặng yên, điềm đạm như hồ tĩnh lặng và hoan hỷ thốt lên:
– Mong sao Udāyibhadda – con trai của ta, cũng hưởng được sự tĩnh lặng bình yên như các chư tăng nơi này!
– Dường như Đại vương đang vương vấn người thân?
– Thưa Ngài, con yêu thương hoàng tử Udāyibhadda – con trai của con rất nhiều. Mong sao Udāyibhadda cũng hưởng được sự tĩnh lặng bình yên như hội chúng tỳ khưu nơi này!
Rồi vua đảnh lễ Đức Phật, chắp tay kính chào các tỳ khưu, ngồi sang một bên và nói:
– Thưa Thế Tôn, con có thể hỏi Ngài một câu nếu Ngài có chút thời gian dành cho con.
Đại vương hãy hỏi bất cứ điều gì ngài muốn.
– Thưa Ngài, có nhiều ngành nghề khác nhau trong thế gian như huấn luyện ngựa, quản voi, đánh xe, bắn cung, cầm cờ, quản trại, đặc công, tham mưu, binh sĩ tiền tuyến, chiến binh, chiến binh áo giáp, quan chức hoàng gia, thống kê viên, kế toán, người hầu, thợ làm bánh, thợ cắt tóc, lao công, đầu bếp, thợ kết tràng hoa, thợ giặt, thợ dệt, thợ đan, thợ gốm và những ngành nghề khác. Ngay trong hiện tại, họ nhận được lợi lộc từ công việc của mình, và nhờ đó, họ sống hạnh phúc, họ làm cho vợ con, đồng nghiệp, bạn bè được hạnh phúc, rồi họ cúng dường đến tỳ khưu, bà la môn. Trong tương lai, những điều tốt lành đó trổ quả an vui, đưa đến tái sinh cõi chư thiên. Vậy, Thế Tôn có thể chỉ cho con thấy phước báu lợi lạc thiết thực của đời sống xuất gia (sa môn quả) trổ quả ngay bây giờ và tại đây chăng?
– Đại vương có nhớ mình đã từng tìm đến các đạo sĩ và bà la môn khác để hỏi câu hỏi này?
– Thưa Ngài, con có nhớ.
– Vậy Đại vương có thể cho biết các vị ấy đã trả lời thế nào không, nếu điều đó không có gì trở ngại.
Con không thấy gì trở ngại khi nói trước Thế Tôn và các bậc như Thế Tôn.
Vậy xin Đại vương hãy nói.
– Thưa Thế Tôn, có lần con đến gặp giáo chủ Pūrana Kassapa (không tin nhân quả) chào hỏi thân thiện và ngồi sang một bên. Sau đó, con đem câu hỏi này ra hỏi vị ấy. Vị giáo chủ này trả lời bằng thuyết Không Có Nhân Quả (Akiriyavāda):
“Này Đại vương, tự mình làm hay xúi người khác làm, chém giết hay xúi người chém giết, hành hạ hay xúi người hành hạ, gây đau khổ hay xúi người gây đau khổ, áp bức hay xúi người áp bức, hăm dọa hay xúi người hăm dọa, hoặc sát sinh, lấy của không cho, đột nhập nhà cửa, cướp bóc, trộm cướp, chận đường cướp giật, ngoại tình, nói dối…, những hành động như vậy không phải là tội ác và không trổ quả ác. Nếu dùng một lưỡi dao bén thảm sát, giết tất cả chúng sinh trên trái đất này và chất xác họ thành một đống to, hành động này cũng không phải là tội ác và không trổ quả ác. Nếu có người đi dọc theo bờ Nam sông Hằng chém giết hay xúi người chém giết, hành hạ hay xúi người hành hạ, hành động này cũng không phải là tội ác và không trổ quả ác. Nếu có người đi dọc theo bờ Bắc sông Hằng bố thí, khiến người bố thí, cúng dường, khiến người cúng dường, thì hành động này cũng không phải là phước thiện và không trổ quả thiện lành. Dù là bố thí, canh gác kiểm soát thân tâm hay hành hạnh chân thật, chúng chẳng sinh ra phước báu và chẳng trổ quả phước.”
Khi con hỏi về phước báu lợi lạc của đời xuất gia (sa môn quả), vị ấy trả lời bằng thuyết không có nhân quả (akiriyavāda) như thế. Điều đó chẳng khác nào khi con hỏi về quả xoài lại nhận được câu trả lời về quả mít, hay hỏi về quả mít lại được đáp bằng quả xoài. Pūraṇa Kassapa đã trả lời về phước báu đời xuất gia bằng học thuyết phủ nhận nhân quả. Lúc ấy, con tự nhủ: “Ta không nên làm khó dễ các sa môn, bà la môn trong xứ sở của mình.” Vì lẽ đó, dù không đồng tình nhưng không lên tiếng phản đối, con chỉ đứng dậy và ra về.
– Một lần khác, thưa Thế Tôn, con đến gặp giáo chủ Makkhali Gosāla, chào hỏi thân thiện và ngồi sang một bên. Con lại đem câu hỏi ấy ra hỏi. Vị giáo chủ này trả lời bằng thuyết Định mệnh an bài (Niyativāda) 1 Học thuyết này tin: luân hồi là tất nhiên và tự diễn tiến, nỗ lực là vô ích.:
“Này Đại vương, chúng sinh bị ô nhiễm mà không do nhân duyên nào cả. Cũng không có nhân duyên nào khiến chúng sinh được thanh lọc khỏi ô nhiễm, chúng sinh tự thanh lọc mà không cần nhân duyên. Người ta không hành động theo ý muốn của chính mình, không hành động theo ý muốn của người khác, cũng không hành động từ ý muốn của bất kỳ ai. Không có cái gọi là năng lực, năng lượng, sức mạnh hay nghị lực của con người. Tất cả chúng sinh đều bất lực, được định hình bởi định mệnh, hoàn cảnh, và bản chất (tự nhiên), họ kinh nghiệm hạnh phúc và đau khổ qua sáu thể loại tái sinh.
Có tất cả 1.400.000 thể loại chúng sinh, lại có 6.000 và có thêm 600 thể loại khác. Có 500 loại nghiệp và có năm nghiệp (theo năm căn), lại có ba nghiệp (về thân, khẩu, ý) lại có toàn nghiệp (thân và khẩu) và bán nghiệp (ý). Có 62 hai đạo, 62 tiểu kiếp, sáu thể loại chúng sinh, tám giai đoạn đời người, 4.900 phương thức sống (nghề), 4.900 loại du sĩ, 4.900 chỗ ở của loài Nāga, 2.000 căn (thu nhận đối tượng giác quan), 3.000 cảnh địa ngục, 36 trần giới, bảy cõi chúng sinh có tri giác, bảy cõi chúng sinh không có tri giác, bảy loại cây có đốt, bảy loại chư thiên, bảy loại người, bảy loài ma quỷ, bảy hồ nước lớn, bảy loại nút thắt lớn, 700 nút thắt nhỏ, bảy vực thẳm lớn, 700 vực thẳm nhỏ, bảy loại giấc mơ lớn, 700 loại giấc mơ nhỏ, có 8.400.000 đại kiếp. Kẻ ngu si và người trí tuệ, sau khi đã trôi dạt và lang thang qua tất cả những điều này, sẽ đồng loạt chấm dứt khổ đau.
Nếu ai đó nguyện rằng: “Do gìn giữ giới đức trong sạch, hành xác hay sống đời phạm hạnh, tôi nguyện làm cho nghiệp lực chưa trổ quả sẽ trổ quả, và loại bỏ những nghiệp đã trổ quả”, thì điều này hoàn toàn không thể xảy ra. Bởi hạnh phúc và đau khổ đều đã được đong đếm (định sẵn), vòng luân hồi (saṃsāra) đã được ấn định, không thể bị rút ngắn hay kéo dài, không thể tiến tới hay thoái lui. Như cuộn dây khi được ném ra, nó cứ lăn dài cho đến khi bung hết thì tự động ngừng lại; kẻ ngu si và người trí tuệ trôi dạt lang thang (trong khoảng thời gian đã định), sau đó họ sẽ tự động chấm dứt đau khổ.”
Khi con hỏi về phước báu lợi lạc của đời xuất gia (sa môn quả), vị ấy lại trả lời bằng thuyết tự thanh lọc khi lang thang trong luân hồi như thế. Điều đó chẳng khác nào khi con hỏi về quả xoài lại nhận được câu trả lời về quả mít, hay hỏi về quả mít lại được đáp bằng quả xoài. Makkhali Gosāla đã trả lời về phước báu của đời xuất gia bằng học thuyết tự thanh lọc khi lang thang trong luân hồi. Lúc ấy, con tự nhủ: “Ta không nên làm khó dễ các sa môn, bà la môn trong xứ sở của mình.” Vì lẽ đó, dù không đồng tình nhưng không lên tiếng phản đối, con chỉ đứng dậy và ra về.
– Thưa Thế Tôn, có lần con đến gặp giáo chủ Ajita Kesakambala2 Biệt danh "Kesakambala" có nghĩa là "chiếc chăn bằng tóc," bởi ông thường mặc chiếc áo choàng dệt từ tóc người, được mô tả là thô ráp và rất khó chịu. , chào hỏi thân thiện và ngồi sang một bên. Sau đó, con đem câu hỏi này ra hỏi vị ấy. Vị giáo chủ này trả lời bằng thuyết Đoạn diệt (Ucchedavāda):
“Này Đại vương, không có bố thí, không có cúng dường, không có ban phát, không có quả trổ sinh từ các hành động thiện và ác. Không có đời này, không có đời sau, không có mẹ, không có cha, không có ai tái sinh. Trên đời này, không có những vị sa môn và bà la môn tu tập chân chánh, thành tựu viên mãn và có thể giải thích về đời này hay đời sau dựa trên thực chứng của chính họ.
Một con người được tạo thành từ bốn yếu tố vật chất. Khi người đó chết đi, phần đất trong thân trở về hợp nhất với đất (bên ngoài); phần nước trong thân trở về hợp nhất với nước (bên ngoài); phần lửa trong thân trở về hợp nhất với lửa (bên ngoài); phần gió trong thân trở về và hợp nhất với gió (bên ngoài). Các căn của người đó tiêu tan trong hư không. Bốn người khiêng thi hài đặt trên một chiếc cáng, than khóc tiễn đưa cho đến tận bãi tha ma. Xương cốt trở nên nhạt màu như lông bồ câu và những vật cúng dường của người này rốt cuộc cũng hóa thành tro bụi. Chỉ có kẻ ngu mới khen ngợi sự bố thí. Lời tuyên bố rằng có kiếp sau chỉ là sự dối trá, sáo rỗng. Khi thân hoại mạng chung, kẻ ngu cũng như người trí đều bị đoạn diệt và hủy hoại hoàn toàn, không còn tồn tại sau khi chết.”
Khi con hỏi về phước báu lợi lạc của đời xuất gia (sa môn quả), vị ấy lại trả lời bằng thuyết đoạn diệt như thế. Điều đó chẳng khác nào khi con hỏi về quả xoài lại nhận được câu trả lời về quả mít, hay hỏi về quả mít lại được đáp bằng quả xoài. Ajita Kesakambala đã trả lời về phước báu của đời xuất gia bằng thuyết đoạn diệt. Lúc ấy, con tự nhủ: “Ta không nên làm khó dễ các sa môn, bà la môn trong xứ sở của mình.” Vì lẽ đó, dù không đồng tình nhưng không lên tiếng phản đối, con chỉ đứng dậy và ra về.
Thưa Thế Tôn, có lần con đến gặp giáo chủ Pakudha Kaccāyana (thuyết thường kiến, tin linh hồn trường tồn sassatavāda)3 Học thuyết này tin rằng linh hồn là một thực thể trường tồn, không bao giờ chết. Việc chém giết chẳng qua chỉ là lưỡi kiếm luồn qua những khoảng không giữa các yếu tố vật chất mà thôi, do đó không tạo thành ác nghiệp. chào hỏi thân thiện và ngồi sang một bên. Con tiếp tục đem câu hỏi ấy ra hỏi. Vị giáo chủ này trả lời:
“Này Đại vương, có bảy thân (yếu tố) không được tạo ra, không được kiến tạo, không do tạo hóa làm ra, vững chắc như đỉnh núi, đứng vững như một cột trụ. Chúng không biến đổi, không thay đổi, không gây trở ngại lẫn nhau; chúng không có khả năng gây cho nhau hạnh phúc, đau khổ, hoặc cả hai. Bảy thân đó là gì? Thân đất, thân nước, thân lửa, thân gió, hạnh phúc, đau khổ, và mạng sống.
Giữa bảy thân (yếu tố) này, không có ai giết cũng không có ai xúi người khác giết; không có ai nghe cũng không có ai xúi người khác nghe; không có ai biết cũng không có ai xúi người khác biết. Nếu một người dùng thanh gươm bén chặt đứt đầu người khác, thì cũng không phải là người này đã lấy đi sinh mạng của người kia; bởi lẽ thanh gươm đó chỉ đơn thuần đi xuyên qua khoảng trống giữa bảy thân ấy mà thôi.”
Khi con hỏi về phước báu lợi lạc của đời xuất gia (sa môn quả), vị ấy lại trả lời lạc đề như thế. Điều đó chẳng khác nào khi con hỏi về quả xoài lại nhận được câu trả lời về quả mít, hay hỏi về quả mít lại được đáp bằng quả xoài. Pakudha Kaccāyana đã trả lời về phước báu của đời xuất gia bằng thuyết trường tồn. Lúc ấy, con tự nhủ: “Ta không nên làm khó dễ các sa môn, bà la môn trong xứ sở của mình.” Vì lẽ đó, dù không đồng tình nhưng không lên tiếng phản đối, con chỉ đứng dậy và ra về.
– Thưa Thế Tôn, có lần con đến gặp giáo chủ Nigaṇṭha Nātaputta (chủ thuyết không tàn ác ahimsa) chào hỏi thân thiện và ngồi sang một bên. Con tiếp tục đem câu hỏi ấy ra hỏi. Vị giáo chủ này trả lời:
“Này Đại vương, ở đây có vị Nigaṇṭha – người đã cởi bỏ mọi trói buộc – đang kiểm soát và chế ngự thông qua bốn pháp: cẩn trọng với mọi loại nước4 Các vị này cho rằng có vô số sinh mạng nhỏ bé (vi khuẩn) ở trong nước. Do đó, việc tắm rửa, đi lại bên ngoài vào mùa mưa, hay không dùng vải lọc nước trước khi uống là hành động tạo sát nghiệp., ngăn chặn mọi điều xấu ác5 Gồm thực hành các hạnh: không tàn bạo, chân thật, không trộm cắp, không tình dục, không tham đắm dính mắc con người, nơi chốn hay vật dụng; tức là chủ trương ngừng tạo nghiệp mới., tự thanh lọc (ác nghiệp đã tạo) bằng cách tẩy trừ6 Họ cho rằng sự kiên nhẫn tu tập, không bỏ cuộc trước vô vàn khó khăn và thực hành khổ hạnh (như nhịn ăn) sẽ giúp thiêu đốt ác nghiệp cũ, từ đó con người được thanh lọc hoàn toàn. và thấm nhuần trong việc kiểm soát chế ngự này. Nhờ kiểm soát và chế ngự bốn pháp như thế, vị này được gọi là Nigaṇṭha đã đi đến đích giác ngộ (gotatto), đã kiểm soát điều phục được tâm (yatatto) và an trú trong tâm tĩnh lặng (thitatto).”
Khi con hỏi về phước báu lợi lạc của đời xuất gia (sa môn quả), vị ấy lại đem bốn pháp chế ngự như thế để trả lời. Điều đó chẳng khác nào khi con hỏi về quả xoài lại nhận được câu trả lời về quả mít, hay hỏi về quả mít lại được đáp bằng quả xoài. Nigaṇṭha Nātaputta đã trả lời về phước báu của đời xuất gia bằng bốn pháp chế ngự. Lúc ấy, con tự nhủ: “Ta không nên làm khó dễ các sa môn, bà la môn trong xứ sở của mình.” Vì lẽ đó, dù không đồng tình nhưng không lên tiếng phản đối, con chỉ đứng dậy và ra về.
– Thưa Thế Tôn, có lần con đến gặp giáo chủ Sañjaya Belaṭṭhaputta (thuyết ngụy biện quanh co) chào hỏi thân thiện và ngồi sang một bên. Con tiếp tục đem câu hỏi ấy ra hỏi. Vị giáo chủ này trả lời:
“Này Đại vương, khi ông hỏi tôi: ‘Có một thế giới nào khác sau khi chết (có tái sinh) hay không?’ Nếu tôi nghĩ là: ‘Có một thế giới khác’, thì tôi sẽ tuyên bố là: ‘Có một thế giới khác’. Nhưng tôi không nói là có, không nói là không, không nói là vừa có vừa không, cũng không nói là không phải có cũng không phải không.
Tương tự như thế, Đại vương có thể hỏi: ‘Không có một thế giới nào khác (không có tái sinh) sao?’Vừa có lại vừa không có một thế giới nào khác sao? Không phải có cũng không phải không có một thế giới nào khác’ sao?
‘Có chúng sinh hóa sinh không?’ ‘Không có chúng sinh hóa sinh sao?’ ‘Hay vừa có lại vừa không có?’ ‘Hay không phải có cũng không phải không có?’
‘Có quả trổ phát sinh từ nghiệp thiện và nghiệp ác không?’ ‘Không có quả trổ phát sinh từ nghiệp thiện và nghiệp ác sao?’ ‘Hay vừa có lại vừa không có?’ ‘Hay không phải có cũng không phải không có?’
‘Như Lai có tồn tại sau khi chết không?’ ‘Như Lai không tồn tại sau khi chết sao?’ ‘Hay Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết?’ ‘Hay Như Lai không phải tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết?’
Nếu tôi nghĩ là có, tôi sẽ tuyên bố là có. Nhưng tôi không nói là có, không nói là không, không nói là vừa có vừa không, cũng không nói là không phải có cũng không phải không.”
Khi con hỏi về phước báu lợi lạc của đời xuất gia (sa môn quả), vị ấy trả lời lươn lẹo quanh co như thế. Điều đó chẳng khác nào khi con hỏi về quả xoài lại nhận được câu trả lời về quả mít, hay hỏi về quả mít lại được đáp bằng quả xoài. Sañjaya Belaṭṭhaputta đã trả lời về phước báu của đời xuất gia lươn lẹo quanh co. Lúc ấy, con tự nhủ: “Ta không nên làm khó dễ các sa môn, bà la môn trong xứ sở của mình.” Vì lẽ đó, dù không đồng tình nhưng không lên tiếng phản đối, con chỉ đứng dậy và ra về.
– Thưa Thế Tôn, vậy Ngài có thể cho con biết phước báu, lợi lạc của đời sống xuất gia có thể trổ quả ngay bây giờ và tại đây không ạ?
QUẢ TRỔ THỨ NHẤT TỪ ĐỜI TU HÀNH CỦA TỲ KHƯU
– Ðại vương nghĩ sao? Giả sử ông có một người giúp việc thức khuya dậy sớm, làm mọi thứ mà ông ra lệnh, luôn làm ông hài lòng, nói chuyện lễ phép, chú ý từng cử chỉ nét mặt của ông. Người này thầm nghĩ: “Phước báu quả thật kỳ diệu! Vua Ajātasattu, con hoàng hậu Videhi xứ Magadha là người, tôi cũng là người. Vua Ajātasattu, con hoàng hậu Videhi xứ Magadha tận hưởng trọn vẹn năm lạc thú không khác gì vị chư thiên; trong khi tôi chỉ là một nô bộc thức khuya dậy sớm, làm mọi thứ được giao, luôn làm vua hài lòng, nói chuyện lễ phép, để ý từng cử chỉ nét mặt của của vua. Vậy ta nên làm những việc phước thiện như vua (từng làm trong quá khứ vốn trổ quả tốt có thể thấy được trong hiện tại). Ta hãy cạo bỏ râu tóc, khoác tấm y tỳ khưu, rời nhà sống đời không nhà.”
Sau đó, người ấy từ bỏ của cải, dù nhiều hay ít, xa rời thân quyến xa gần, cạo bỏ râu tóc, khoác tấm y tỳ khưu, rời nhà sống đời không nhà. Sau khi xuất gia, vị ấy sống chánh niệm, canh gác và kiểm soát hành động, lời nói, suy nghĩ, tri túc trong ăn uống và y áo, an vui với cuộc sống ẩn cư.
Nếu tùy tùng của Ðại vương thấy và tâu lại sự việc này, thì Ðại vương có nói rằng: “Hãy đem người này trở về làm nô bộc cho ta như trước” không?
– Chắc chắn là không, thưa Thế Tôn. Trái lại, con sẽ quỳ xuống đảnh lễ, đứng dậy cung kính, mời ngồi, và dâng cúng y, thức ăn, chỗ ở và thuốc men cho vị ấy. Con cũng sẽ tạo điều kiện và bảo vệ vị ấy đúng mực theo chánh pháp.
– Vậy Ðại vương nghĩ sao, đây có phải là quả trổ của đời xuất gia được thấy rõ?
– Thưa Thế Tôn, đúng vậy a.
– Này Ðại vương, Ta vừa chỉ cho ông quả trổ thứ nhất của đời xuất gia được thấy rõ ngay bây giờ và tại đây.
QUẢ TRỔ THỨ HAI TỪ ĐỜI TU HÀNH CỦA TỲ KHƯU
– Thưa Thế Tôn, Ngài có thể cho con biết quả trổ thứ hai của đời xuất gia được thấy rõ ngay bây giờ và tại đây?
– Hãy để Ta hỏi ông câu này và ông cứ trả lời tùy ý.
– Ðại vương nghĩ sao? Giả sử có một người nông dân, một chủ hộ nộp thuế má, góp vào công khố hoàng gia. Người này thầm nghĩ: “Phước báu quả thật kỳ diệu! Vua Ajātasattu, con hoàng hậu Videhi xứ Magadha là người, và tôi cũng là người. Vua Ajātasattu, con hoàng hậu Videhi xứ Magadha, tận hưởng trọn vẹn năm lạc thú không khác gì vị chư thiên; trong khi tôi là nông dân, chủ hộ nộp thuế má, góp vào công khố hoàng gia. Vậy ta nên làm những việc phước thiện như vua (từng làm trong quá khứ vốn trổ quả tốt có thể thấy được trong hiện tại). Ta hãy cạo bỏ râu tóc, khoác tấm y tỳ khưu, rời nhà sống đời không nhà.”
Sau đó, người ấy từ bỏ của cải, dù nhiều hay ít, xa rời thân quyến xa gần, cạo bỏ râu tóc, khoác tấm y tỳ khưu, từ bỏ nhà sống đời không nhà. Xuất gia, vị ấy sống, canh gác, kiểm soát hành động, lời nói, suy nghĩ, tri túc trong ăn uống và y áo, an vui với cuộc sống ẩn cư.
Nếu tùy tùng của Ðại vương thấy và tâu lại sự việc, thì Ðại vương có nói rằng: “Hãy đem người này trở về làm nông dân nộp thuế má, góp vào công khố hoàng gia như trước” không?
– Chắc chắn là không, thưa Thế Tôn. Trái lại, con sẽ quỳ xuống đảnh lễ, đứng dậy cung kính, mời ngồi, và dâng cúng y, thức ăn, chỗ ở và thuốc men cho vị ấy. Con cũng sẽ tạo điều kiện và bảo vệ vị ấy đúng mực theo chánh pháp.
– Vậy Ðại vương nghĩ sao, đây có phải là quả trổ của đời xuất gia được thấy rõ?
– Thưa Thế Tôn, đúng vậy a.
– Này Ðại vương, Ta vừa chỉ cho ông quả trổ thứ nhất của đời xuất gia được thấy rõ ngay bây giờ và tại đây.
QUẢ TRỔ VI DIỆU KHÁC TỪ ĐỜI TU HÀNH CỦA TỲ KHƯU
– Thưa Thế Tôn, Ngài có thể cho con biết những quả trổ khác của đời xuất gia được thấy rõ ngay bây giờ và tại đây chăng?
Vậy ông hãy cẩn thận lắng nghe và Ta sẽ nói.
Dạ vâng, thưa Thế Tôn.
Phẩm Chất Giới Đức (mục tiêu của đời tỳ khưu)
Khi xuất hiện trên thế gian vị Phật (Chánh Đẳng Chánh Giác) được khen ngợi qua chín ân đức:
|
Ngài được gọi là: |
Iti pi so Bhagavā: |
|
Bậc A La Hán |
Arahaṁ |
|
Đấng Chánh Biến Tri do Ngài tự ngộ |
Sammāsambuddho |
|
Bậc có trí tuệ và phẩm hạnh hoàn hảo |
Vijjācaraṇasampanno |
|
Bậc nói lời chân chánh, đi đến nơi thanh tịnh |
Sugato |
|
Bậc thông suốt tam giới |
Lokavidū |
|
Bậc có đức hạnh không ai sánh bằng, có khả năng tế độ người hữu duyên cần tế độ |
Anuttaro Purisadammasārathi |
|
Bậc Thầy của nhân loại và chư thiên |
Satthādevamanussānaṁ |
|
Đức Phật, bậc đã giác ngộ |
Buddho |
|
Đức Thế Tôn |
Bhagavāti. |
Ngài tuyên bố và làm cho chánh pháp được hiểu rõ trên thế gian trước chư thiên, ma vương, Phạm thiên, tỳ khưu, bà la môn, hoàng gia và dân chúng. Ngài tuyên giảng giáo pháp cao thượng hay ở đoạn đầu, hay ở đoạn giữa và hay ở đoạn cuối cả về ngữ nghĩa lẫn văn tự, chỉ ra đời sống thánh thiện hoàn hảo và trong sạch.
Rồi người chủ hộ, con trai người chủ hộ hay bất cứ ai khác lắng nghe giáo pháp đó. Sau khi lắng nghe, người này phát sinh đức tin nơi Như Lai. Phát sinh đức tin, rồi người này suy gẫm rằng: “Đời sống tại gia quả thật gò bó, là con đường đầy bụi bặm trong khi đời sống xuất gia như một chân trời rộng mở. Chẳng dễ dàng gì khi sống đời thánh thiện, trong sạch, sáng ngời và hoàn hảo tại nhà như vỏ ốc sáng bóng. Ta hãy cạo râu tóc, đắp y và từ bỏ gia đình sống đời không nhà.”
Một thời gian sau, người này từ bỏ của cải dù là nhiều hay ít, từ bỏ thân quyến dù nhiếu hay ít. Rồi người này cạo râu tóc, đắp y và rời nhà để sống đời không nhà.
Sau khi xuất gia, vị ấy sống canh gác các căn tuân theo giới luật của tỳ khưu, có cư xử và lối sống thích hợp. Giữ gìn giới luật, vị ấy nhận ra hiểm nguy ngay cả trong những lỗi lầm nhỏ nhặt nhất. Do vậy, vị ấy có lời nói và hành động thiện lành, nuôi mạng chân chánh, giới luật trong sạch. Vị ấy sống tri túc, canh gác các căn với chánh niệm và tỉnh giác.
Giới Luật:
Và thế nào là vị tỳ khưu có giới đức?
Phẩm Nhỏ Về Giới Luật
Ở đây, vị ấy từ bỏ sát sinh, không hủy hoại mạng sống, buông dao và dây trói, có lòng bi mẫn, thương yêu, đem đến lợi lạc cho tất cả chúng sinh. Vị ấy không lấy của không được cho, chỉ nhận những gì được cho tặng… Vị ấy từ bỏ mọi hành vi dâm dục, sống đời phạm hạnh… Vị ấy không nói lời gian dối, chia rẽ, thô lỗ, vô ích, chỉ nói những điều hợp thời, hữu ích, hợp với giáo pháp và giới luật, nói đúng sự thật, có mục đích và đem đến lợi lạc… Đây là giới luật của vị ấy.
Vị ấy không làm tổn hại hạt giống và cây cối. (Giữ giới sa di), vị ấy ăn một bữa trong ngày, không ăn sai thời (từ trưa đến sáng hôm sau)… không ca hát, nhảy múa, nghe nhạc, xem phim ảnh, hòa nhạc, các chương trình biểu diễn, trình chiếu… không trang điểm bằng tràng hoa, dùng nước hoa, mỹ phẩm… không nằm ngồi trên giường ghế cao sang lộng lẫy… cũng không nhận vàng, bạc, tiền.
(Từ bỏ tà mạng) vị ấy không nhận vật phẩm như gạo (để tự nấu), thịt sống, đàn bà, bé gái, người hầu (nam, nữ), dê, cừu, heo, gà vịt, gia súc, voi, ngựa, đất đai (bất động sản), không làm sứ giả hay chạy việc vặt cho người thế tục, từ bỏ mọi hình thức mua bán, gian lận trong cân đo, mua chuộc hay hối lộ, từ bỏ mọi hành vi bạo lực như gây thương tích, bắt bớ, giam cầm, cướp bóc, hay tước đoạt mạng sống của người khác. Đây cũng là giới luật của vị ấy.
Phẩm Trung Về Giới Luật
Một số đạo sĩ và bà la môn, vốn sống nhờ vào thức ăn do thí chủ tôn kính dâng cúng, lại làm hư hại mầm sống như hạt và cây cối (lớn lên từ hạt hay do nhân cành, chiết nhánh); thì vị tỳ khưu từ bỏ việc làm tổn hại đến bất kỳ loại hạt giống hay cây trồng nào. Đây là một phần trong giới hạnh của vị ấy.
Trong khi một số đạo sĩ và bà la môn, vốn sống nhờ vào thức ăn do thí chủ dâng cúng, vẫn còn tích trữ các loại vật dụng như đồ ăn, thức uống, y phục, xe cộ, giường nệm, hương liệu, và thực phẩm; thì vị tỳ khưu từ bỏ việc tích trữ các loại vật dụng như vậy. Đây là một phần trong giới hạnh của vị ấy.
Trong khi một số đạo sĩ và bà la môn … vẫn còn đi xem các buổi trình diễn thế tục, như ca, vũ, nhạc, kịch; các màn ngâm thơ, kể chuyện; các cuộc triển lãm, múa lửa, đấu sức của voi, ngựa, trâu, đá gà; hay các trận đấu võ, đấu vật, chơi đánh trận; thì vị tỳ khưu dứt khoát từ bỏ việc xem các buổi trình diễn như vậy. Đây là một phần trong giới hạnh của vị ấy.
Trong khi một số đạo sĩ và bà la môn … vẫn còn mê các trò tiêu khiển như: đánh cờ, lò cò, các trò xúc xắc, ném que, vẽ, thổi còi, chơi banh, chơi đồ chơi, hay các trò nhào lộn, bắt chước người tàn tật; thì vị tỳ khưu dứt khoát từ bỏ các trò tiêu khiển gây xao lãng như vậy. Đây cũng là một phần trong giới hạnh của vị ấy.
Trong khi một số đạo sĩ và bà la môn … vẫn thích dùng giường ghế cao sang, lộng lẫy, chẳng hạn như các loại giường ghế quá khổ, có chân chạm trổ hình thú; chăn nệm làm bằng lông dài, nhiều màu, chăn len trắng, chăn len thêu hoa lá hay muông thú, khăn trải giường bằng len với lông bện ở giữa hoặc hai bên, hoặc đính châu báu, các loại chăn làm từ lụa tơ tằm, mền nhồi bông, các loại thảm trải sàn xa hoa dùng cho voi, ngựa, xe ngựa, hay làm từ da của nai hay loài sơn dương; và các loại giường có lọng che, hay có gối nệm màu đỏ son ở cả hai đầu; thì vị tỳ khưu dứt khoát không dùng các loại giường ghế cao sang, lộng lẫy như vậy. Đây cũng là một phần trong giới hạnh của vị ấy.
Trong khi một số đạo sĩ và bà la môn … (vẫn còn chú trọng đến việc trang điểm và làm đẹp thân thể) chẳng hạn như: tắm gội với nước thơm, xoa bóp tay chân, soi mình trước gương; trang sức bằng vòng hoa, vòng tay; thoa phấn, dầu thơm, lên người; mang theo những vật dụng trang trí như gậy batoong chạm trổ, lọng nón che, dép guốc thêu thùa, dùng chổi đuôi yak; và choàng khăn, đội mũ, mặc những y phục có tua rua dài (để trông nổi bật); thì vị tỳ khưu từ bỏ mọi hình thức trang điểm và làm đẹp như vậy. Đây cũng là một phần trong giới hạnh của vị ấy.
Trong khi một số đạo sĩ và bà la môn … tham gia vào các câu chuyện thế gian vô ích, chẳng hạn như: chuyện về vua chúa, quan lại, binh lính, giặc cướp, và các cuộc chiến tranh; chuyện về ăn uống, y phục, nội thất, hương liệu; chuyện về bà con, làng xóm, phố thị; chuyện về phụ nữ, về các bậc anh hùng, hay các câu chuyện phiếm bên đường, bên giếng nước; và các loại chuyện hý luận về về người đã khuất, nguồn gốc của thế gian và biển cả, hay các cuộc tranh luận về sự tồn tại và không tồn tại; thì vị tỳ khưu dứt khoát không tham gia vào các câu chuyện thế gian vô ích như vậy. Đây cũng là một phần trong giới hạnh của vị ấy.
Trong khi một số đạo sĩ và bà la môn … tham gia vào các cuộc tranh luận hơn thua, và nói với nhau những lời như:
Ông không hiểu giáo pháp và giới luật này, chỉ tôi mới hiểu.
Làm sao một người như ông lại có thể hiểu được giáo pháp và giới luật này cho được?
Con đường của ông là sai lầm, con đường của tôi mới là chân chính.
Lời nói của tôi nhất quán, còn của ông thì trước sau mâu thuẫn.
Điều cần nói trước thì ông nói sau, điều nên nói sau thì ông lại đề cập trước.
Toàn bộ học thuyết mà ông dày công xây dựng đã bị tôi bác bỏ
Luận điểm của ông đã sai. Ông đã thua. Giờ hãy đi mà cứu vãn học thuyết của mình đi, nếu có thể!
…thì vị tỳ khưu dứt khoát không tham gia vào các cuộc tranh luận hơn thua như vậy. Đây cũng là một phần trong giới hạnh của vị ấy.
Trong khi một số đạo sĩ và bà la môn … làm sứ giả hay chạy việc vặt phục vụ cho vua chúa, quan chức, quân đội, bà la môn, hay những người thế tục khác, sẵn sàng tuân theo những mệnh lệnh như: “Hãy đi đến nơi này,” “Hãy đi đến nơi kia,” “Hãy mang vật này đi,” hay “Hãy mang vật kia về,” …thì vị tỳ khưu dứt khoát không làm những việc vặt như vậy. Đây cũng là một phần trong giới hạnh của vị ấy.
Trong khi một số đạo sĩ và bà la môn… nuôi mạng bằng những phương cách bất chính như: lừa dối hoặc giả vờ (rằng mình chứng đắc các Thánh pháp); tâng bốc xu nịnh (để mưu cầu lợi lộc); nói xa gần, ám chỉ, gợi ý (để được cúng dường), gây áp lực hoặc ép buộc (ai đó cúng dường mình), hay dùng lợi nhỏ để mồi chài lợi lớn; thì vị tỳ khưu dứt khoát không lừa dối, xu nịnh để nuôi sống bản thân như thế. Đây cũng là một phần trong giới hạnh của vị ấy.
Phẩm Đại Về Giới Luật
Trong khi một số đạo sĩ và bà la môn … vẫn còn nuôi mạng sai trái (bằng thuật bói toán) như:
đoán vận mạng qua tướng tay, tướng chân hay các đặc điểm trên cơ thể;
đoán điềm lành, điềm dữ qua các dấu hiệu và sự kiện;
giải mã các hiện tượng thiên nhiên như sấm chớp, nhật thực, nguyệt thực, hay sao chổi, hay giải đoán ý nghĩa của những giấc mơ;
xem nhân tướng, cốt tướng, hay đoán vận qua các dấu vết trên cơ thể, trên đầu ngón tay, hoặc trên vải bị chuột gặm;
thực hành các nghi lễ tế lửa, dâng cúng tế phẩm bằng muỗng, bằng vỏ trấu, bột gạo, hạt gạo, bơ lỏng, dầu; hoặc dùng thần chú để cúng tế, và thực hành huyết tế;
xem phong thủy, chọn lựa đất đai để xây cất nhà cửa hay vườn tược cho hợp hướng;
đưa ra các lời tiên tri cho vua quan và triều chính;
làm các pháp trấn yểm ma quỷ ở nghĩa địa, xua đuổi tà ma, và trì các loại thần chú để bảo vệ nhà cửa;
thực hành các thuật dụ rắn, chữa trị các loại nọc độc của rắn, bọ cạp, hay chuột cắn;
lắng nghe và giải mã âm thanh của các loài chim muông để đoán điềm, hay trì chú để hiểu tiếng của chúng;
và tiên đoán tuổi thọ còn lại của một người;
…thì vị tỳ khưu dứt khoát không nuôi mạng bằng các pháp thuật thấp hèn như vậy. Đây cũng là một phần trong giới hạnh của vị ấy.
Trong khi một số đạo sĩ và bà la môn … vẫn nuôi mạng bằng các tà thuật bói toán thấp hèn như phân định điềm tốt xấu dựa trên các đặc điểm của:
Các loại vật dụng như ngọc quý, gậy trượng, y phục, gươm đao, và cung tên;
Con người, dù là nam hay nữ, bé trai hay bé gái, hay người phục dịch trong nhà;
Các loài vật như voi, ngựa, trâu, bò, dê, cừu, gà, chim cút, và các loài thú khác;
…thì vị tỳ khưu dứt khoát không làm các pháp thuật thấp hèn như vậy. Đây cũng là một phần trong giới hạnh của vị ấy.
Trong khi một số đạo sĩ và bà la môn … vẫn nuôi mạng bằng các tà thuật bói toán thấp hèn như phân định:
Tướng lĩnh tiến tới (tấn công)
Tướng lĩnh lui binh (phòng thủ)
Tướng lĩnh phe ta tiến tới rồi lui binh
Tướng lĩnh đối phương tiến tới rồi lui binh
Tướng lĩnh ta thắng và tướng lĩnh đối phương thua
Tướng lĩnh ta thua và tướng lĩnh đối phương thắng
Phe ta thắng và đối phương thua
Phe ta thua và đối phương thắng
Sẽ có thắng lợi thế này và thất bại thế này
…thì vị tỳ khưu dứt khoát không bói toán điềm tốt xấu thấp hèn như vậy. Đây cũng là một phần trong giới hạnh của vị ấy.
Trong khi một số đạo sĩ và bà la môn … vẫn nuôi mạng thấp hèn như tiên đoán:
Sẽ có hiện tượng nguyệt thực
Sẽ có hiện tượng nhật thực
Sẽ có hiện tượng sao bị che khuất
Mặt trời và mặt trăng xoay đúng quỹ đạo của chúng
Mặt trời và mặt trăng không xoay đúng quỹ đạo của chúng
Sẽ có hiện tượng mưa sao băng
Bầu trời sẽ tối sầm
Sẽ có động đất
Sẽ có sấm sét xuất hiện trên bầu trời trong xanh
Sẽ có sự xuất hiện (mọc lên), kéo dài, biến mất (lặn xuống), tối đi và sáng lên của mặt trời, mặt trăng và các chòm sao (hiện tượng nhật thực, nguyệt thực và các sự kiện thiên văn)…
…thì vị tỳ khưu dứt khoát không nuôi mạng bằng những lời tiên tri thấp hèn như vậy. Đây cũng là một phần trong giới hạnh của vị ấy.
Trong khi một số đạo sĩ và bà la môn … vẫn nuôi mạng bằng những điều thấp hèn như tiên đoán:
Sẽ có mưa nhiều hay hạn hán
Sẽ được mùa hay thất mùa
Sẽ dược bình yên hay nguy hiểm
Sẽ có nhiều bệnh tật hay khỏe mạnh
Hoặc họ kiếm sống bằng cách dạy tính toán, làm thơ, nghệ thuật thỏa mãn giác quan (vẽ tranh, tượng điêu khắc tập trung vào vẻ đẹp cơ thể hoặc cảm xúc quyến rũ, ẩm thực, thiết kế nội thất…)
…thì vị tỳ khưu dứt khoát không hành nghề kiếm sống thấp hèn như vậy. Đây cũng là một phần trong giới hạnh của vị ấy.
Trong khi một số đạo sĩ và bà la môn … vẫn nuôi mạng bằng những điều thấp hèn như:
Coi ngày lành tháng tốt để đính hôn, cưới hỏi, ly dị
Coi ngày lành tháng tốt để đi đòi nợ, vay tiền, đọc chú để ai đó được xinh đẹp hay xấu xí, chữa cho phụ nữ sẩy thai…
Đọc chú để cứng lưỡi ai, làm tê liệt cằm, làm tay không cử động, làm cho điếc
Hỏi những câu hỏi và nhận câu trả lời qua gương, qua một bé gái, qua phi nhân
Thờ mặt trời, Phạm thiên, phun lửa từ miệng, gọi cầu thần tài, thần linh ban cho sự may mắn
…thì vị tỳ khưu dứt khoát không nuôi mạng bằng các tà thuật, phù chú thấp hèn như vậy. Đây cũng là một phần trong giới hạnh của vị ấy.
Trong khi một số đạo sĩ và bà la môn … nuôi mạng bằng những điều thấp hèn như:
Hứa ban tặng (phi nhân, quỷ thần) thứ gì đó khi yêu cầu giúp điều gì
Dạy thần chú bảo vệ gia đình, nhà cửa
Làm nam giới sung mãn hay bất lực (cường dương, liệt dương)
Làm phép nơi xây cất
Cúng tế thần lửa
Thực hiện nghi lễ súc miệng và tắm rửa
Làm thuốc nôn ói (tống độc), xổ, trị đàm, lợi tiểu, nhức đầu
Điều chế thuốc, thuốc nhỏ mắt, nhỏ mũi, nhỏ tai, phẫu thuật, trị mắt cườm, bệnh trẻ em…
…thì vị tỳ khưu dứt khoát không hành nghề bốc thuốc, trị bệnh hay cúng tế thấp hèn như vậy. Đây cũng là một phần trong giới hạnh của vị ấy.
Này Đại vương, vị tỳ khưu gìn giữ và thành tựu giới đức như thế sẽ không gặp nguy hiểm dù ở nơi đâu. Như vị vua anh minh thắng trận không thấy có gì phải lo lắng về kẻ thù nữa; vị tỳ khưu thành tựu giới đức sẽ không thấy nguy hiểm dù ở bất cứ nơi đâu. Với giới đức cao quý đó, vị tỳ khưu hướng vào trong, tận hưởng niềm hạnh phúc có được do hành theo những điều không bị chê trách7 Anavajja sukhaṁ. Chú giải: “Vị ấy kinh nghiệm thân tâm an lạc, không có gì đáng chê trách phát sinh cùng các tâm sở không lo lắng, hỷ, lạc định do giới đức trong sạch…” (DA 1:183); “loại hạnh phúc không thấm đẫm ô nhiễm” (niddosa,sukha, MA 2:214 = AA 3:198). .
GIỚI LUẬT CANH GÁC KIỂM SOÁT CÁC CĂN
Và thế nào là vị tỳ khưu giữ giới luật canh gác kiểm soát các căn?
– Khi thấy gì nơi mắt, vị ấy không níu giữ hình tướng (đây là cô A, anh B) hay chi tiết (mặt, tay, chân…). Bởi lẽ khi sống không canh gác kiểm soát mắt, các pháp bất thiện xấu ác (tham, sân) có thể khống chế tâm.
– Khi nghe gì nơi tai… ngửi gì nơi mũi… nếm gì nơi lưỡi… kinh nghiệm xúc chạm gì nơi thân… nhận biết suy nghĩ gì nơi tâm, vị ấy đều không níu giữ … Bởi lẽ khi sống không canh gác kiểm soát tai… mũi… lưỡi… thân…ý, các pháp bất thiện xấu ác (tham, sân) có thể khống chế tâm.
Với giới đức canh gác kiểm soát các căn cao quý ấy, vị tỳ khưu hướng vào trong, tận hưởng niềm hạnh phúc không thấm đẫm ô nhiễm8 Abyāseka sukhaṁ. Theo Chú giải:“Vị ấy kinh nghiệm loại hạnh phúc an lạc trong sạch phát sinh do có tâm thức cao hơn (adhicitta sukha), vốn không có ô nhiễm, dấy dơ, vì không có dấu vết ô nhiễm. Đây là hạnh phúc phát sinh do hành thiền và chánh niệm..
CHÁNH NIỆM TỈNH GIÁC
Này Đại vương, thế nào là vị tỳ khưu chánh niệm, tỉnh giác? Ở đây, tỳ khưu tỉnh giác khi đi tới, đi lui, tỉnh giác khi nhìn thẳng hay nhìn nghiêng, tỉnh giác khi co duỗi tay chân, tỉnh giác khi vấn y tăng già lê hay các y khác, tỉnh giác khi mang bát, ăn, uống, nhai, nếm, tỉnh giác khi đại tiện, tiểu tiện, tỉnh giác khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức giấc, khi nói chuyện và khi yên lặng. Như thế là vị tỳ khưu chánh niệm, tỉnh giác.
SỐNG TRI TÚC
Này Đại vương, thế nào là vị tỳ khưu tri túc, biết đủ? Con chim khi bay đi bất cứ nơi đâu cũng chỉ mang theo đôi cánh của nó (và đôi cánh là tài sản duy nhất mà nó phải cưu mang). Tương tự như thế, vị tỳ khưu dù đến đâu chỉ mang theo y và bát, tri túc với vật dụng duy nhất là mảnh y để che thân và chiếc bát để khất thực nuôi thân. Như thế là vị tỳ khưu tri túc, biết đủ.
LOẠI TRỪ Ô NHIỄM (nīvaraṇappahānaṃ)
Có được giới đức cao thượng (ariyena sīlakkhandhena samannāgato), có được sự kiểm soát canh gác các căn cao thượng (ariyena indriyasaṃvarena samannāgato), có được chánh niệm tỉnh giác cao thượng (ariyena satisampajaññena samannāgato), có được tri túc cao thượng (ariyāya santuṭṭhiyā samannāgato) như thế, vị ấy sống ẩn cư nơi rừng sâu, dưới cội cây, núi non, khe núi, vách đá, nghĩa địa, khu rừng, nơi đất trống hoặc một đống rơm.
Sau khi đi khất thực về và dùng bữa xong, vị ấy ngồi xếp bằng, thân thẳng, thiết lập chánh niệm vào trong9 Vào đề mục thiền.
Từ bỏ tham ái trong đời, vị ấy sống với tâm không còn tham ái, thanh lọc tâm khỏi tham ái. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không còn ác ý sân hận, thương yêu mọi chúng sinh; vị ấy thanh lọc tâm khỏi sân hận. Từ bỏ uể oải và buồn ngủ, vị ấy sống chánh niệm tỉnh giác, quán tưởng ánh sáng, thanh lọc tâm khỏi uể oải buồn ngủ. Từ bỏ phóng tâm vọng động và lo lắng hối hận, với tâm không còn vọng động (anuddhato), vị ấy sống với nội tâm tĩnh lặng, thanh lọc tâm khỏi mọi vọng động, lo lắng. Từ bỏ hoài nghi (về Tam Bảo, nhân quả, cách thức thiền…), vị ấy sống vượt lên mọi thắc mắc, không còn phân vân về những pháp thiện lành, thanh lọc tâm khỏi hoài nghi.
Này Đại vương, giả sử có một người vay nợ để làm ăn và công việc làm ăn thuận lợi. Người này không những trả sạch nợ cũ mà còn dư dả tiền bạc để lo cho gia đình. Nhớ nghĩ rằng: “Trước kia, tôi vay nợ để làm ăn và công việc làm ăn thuận lợi, giờ đây tôi có thể trả nợ và có tiền để lo cho gia đình”, người này thỏa thích (pāmojja) và vui mừng (somanassa).
Này Đại vương, giả sử có người bị bệnh, đau đớn, bệnh tình quá nặng, không thể ăn ngon miệng và sức khỏe giảm sút. Sau một thời gian, người này lành bệnh, có thể ăn ngon và khỏe mạnh trở lại. Nhớ nghĩ rằng: “Trước kia, tôi bị bệnh, đau đớn, bệnh quá nặng nên không thể ăn ngon và sức khỏe giảm sút; giờ đây tôi có thể ăn ngon và khỏe mạnh trở lại”, người này thỏa thích và vui mừng.
Này Đại vương, giả sử có người bị nhốt trong tù. Sau một thời gian, người này được trả tự do, tính mạng an toàn và của cải không hề bị mất mát. Nhớ nghĩ rằng: “Trước kia, tôi bị nhốt trong tù; giờ đây tôi được ra tù, tính mạng an toàn và của cải không mất mát”, người này thỏa thích và vui mừng.
Này Đại vương, giả sử có người sống đời nô lệ, không được tự do, phải vâng lệnh người khác, không thể đi bất cứ nơi đâu mà mình muốn. Sau một thời gian thoát kiếp nô lệ và có được tự do, người này không còn phải vâng lệnh ai và có thể đi bất cứ nơi đâu mà mình muốn. Nhớ nghĩ rằng: “Trước kia, tôi sống đời nô lệ, không được tự do, phải vâng lệnh người khác, không thể đi bất cứ nơi đâu mà mình muốn; giờ đây tôi đã thoát kiếp nô lệ và có được tự do, không phải vâng lệnh ai và có thể đi bất cứ nơi đâu mà tôi muốn”, người này thỏa thích và vui mừng.
Này Đại vương, giả sử một người giàu có mang theo nhiều tài sản đi trên một đoạn đường vắng vẻ hoang tàn, khó tìm thấy thức ăn và có nhiều nguy hiểm rình rập. Sau khi qua khỏi đoạn đường vắng vẻ hoang tàn đó, người này đến được làng mạc an toàn không còn nguy hiểm. Nhớ nghĩ rằng: “Trước kia, tôi đi trên đoạn đường vắng vẻ hoang tàn, khó tìm thấy thức ăn và có nhiều nguy hiểm rình rập; giờ đây tôi đến được làng mạc an toàn không còn nguy hiểm”, người này thỏa thích và vui mừng.
Tương tự như thế, này Đại vương, khi vị tỳ khưu nhận ra năm ô nhiễm ngủ ngầm chưa bị loại trừ nơi tâm của mình, vị ấy tưởng nghĩ chúng giống như món nợ, như bệnh tật, như ngục tù, như nô lệ và như con đường hoang tàn. Nhưng khi nhận ra năm ô nhiễm ngủ ngầm đã bị loại trừ nơi tâm của mình, vị ấy cảm nhận như thể mình vừa thoát khỏi món nợ, bệnh tật, ngục tù, nô lệ và đến được nơi an toàn.
Khi nhận ra năm ô nhiễm ngủ ngầm đó đã bị loại trừ trong tâm, thỏa thích (pāmojja) phát sinh. Khi thỏa thích phát sinh, hoan hỷ (pīti) phát sinh. Khi tâm tràn đầy hoan hỷ, thân trở nên tĩnh lặng (kāyo passambhati). Khi thân tĩnh lặng, an lạc (sukha) phát sinh. Khi có an lạc, định tâm (samādhi) sinh khởi.
CHỨNG ĐẮC NHẤT THIỀN
Khi xa lánh những vui thích trần gian10 vivicceva kāmehi. Kāmehi-vui thích trần gian gồm: đối tượng làm phát sinh tham ái (vatthu kāma) và tham ái (ô nhiễm kilesa kāma). cùng các pháp bất thiện xấu ác, vị ấy chứng đắc và an trú trong tầng thiền thứ nhất với (sự có mặt của chi thiền) Tầm và Tứ, cùng với Hỷ và Lạc. Vị ấy thấm đẫm, chìm vào, chiêm nghiệm Hỷ và Lạc nơi thân phát sinh do ẩn cư (xa rời vui thích trần gian và các pháp bất thiện xấu ác), đến mức chẳng có nơi nào trên thân không chìm trong Hỷ và Lạc.
Này Đại vương, giả sử có một thợ tắm gội thành thạo cho bột tắm vào thau đồng, rưới nước lên, vò viên để cục bột tắm đó thấm đủ nước, thấm đều nước cả bên trong lẫn bên ngoài mà không bị (dư nước) nhỏ giọt. Tương tự như thế, tỳ khưu thấm đẫm, chìm vào, chiêm nghiệm Hỷ và Lạc nơi thân phát sinh do sự ẩn cư, đến mức chẳng có nơi nào trên toàn thân không chìm trong Hỷ và Lạc. Này Đại vương, đây là kết quả, lợi lạc của đời xuất gia (Sa môn quả) mà tỳ khưu tự mình kinh nghiệm, hiểu rõ (sandiṭṭhiko), vốn tuyệt vời và cao thượng hơn những kinh nghiệm trước đó.
CHỨNG ĐẮC NHỊ THIỀN
Này Đại vương, khi Tầm và Tứ không còn, tỳ khưu chứng đắc và an trú trong tầng thiền thứ nhì phát sinh với nội tâm tĩnh lặng (ajjhattaṃ sampasādanaṃ), nhất tâm (cetaso ekodibhāvaṃ) và Hỷ, Lạc (mà Hỷ và Lạc này) phát sinh do có định tâm (samādhi). Vị ấy thấm đẫm, chìm vào, chiêm nghiệm Hỷ và Lạc nơi thân phát sinh do có định tâm, đến mức chẳng có nơi nào trên thân không chìm trong Hỷ và Lạc.
Này Đại vương, giả sử có một hồ sâu với mạch nước ngầm bên dưới. Không có dòng nước nào từ hướng đông, tây, nam hay bắc chảy vào và thần mưa cũng không đổ mưa vào đó. Nguồn nước mát lạnh dâng lên từ bên dưới sẽ làm cái hồ thấm đẫm, ngập ướt, tràn đầy nước mát, chẳng có nơi nào trong hồ không ngập tràn dòng nước mát lạnh đó. Tương tự như thế, tỳ khưu thấm đẫm, chìm vào, chiêm nghiệm Hỷ và Lạc nơi thân phát sinh do có định tâm, đến mức chẳng có nơi nào trên thân không chìm trong Hỷ và Lạc. Này Đại vương, đây cũng là kết quả, lợi lạc của đời xuất gia mà tỳ khưu tự mình kinh nghiệm hiểu rõ, vốn tuyệt vời hơn (những kinh nghiệm) trước.
CHỨNG ĐẮC TAM THIỀN
Này Đại vương, khi loại bỏ Hỷ và không còn tham ái11 Bhikkhu pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati sato sampajāno, sukhañca kāyena paṭisaṃvedeti., vị ấy – người có chánh niệm, tỉnh giác và tâm xả (upekkhako) chứng đắc và an trú trong tầng thiền thứ ba, kinh nghiệm an lạc nơi thân mà các Thánh nhân mô tả: “Người có tâm xả luôn an trú chánh niệm và sống thoải mái an vui”12 taṃ ariyā ācikkhanti – ‘upekkhako satimā sukhavihārī’ti.. Vị ấy thấm đẫm, chìm vào, chiêm nghiệm sự an lạc nơi thân phát sinh do Hỷ không còn, đến mức chẳng có nơi nào trên thân không ngập tràn trong an lạc.13 So imameva kāyaṃ nippītikena sukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati, nāssa kiñci sabbāvato kāyassa nippītikena sukhena apphuṭaṃ hoti.
Này Đại vương, giả sử có một hồ sen với đủ loại sen xanh, sen trắng và sen đỏ sinh ra trong nước, lớn lên trong nước và chưa hề vươn lên khỏi mặt nước, mà được dưỡng nuôi trong lòng nước. Từ ngọn đến gốc, sen thấm đẫm, ngập ướt, chìm trong nước mát, chẳng có phần nào của sen không thấm đẫm, ngập chìm trong nước mát. Tương tự như thế, tỳ khưu thấm đẫm, chìm vào, chiêm nghiệm sự an lạc nơi thân phát sinh do Hỷ không còn, đến mức chẳng có nơi nào trên thân không ngập tràn trong an lạc. Này Đại vương, đây cũng là kết quả, lợi lạc của đời xuất gia mà tỳ khưu tự mình kinh nghiệm hiểu rõ, vốn tuyệt vời hơn (những kinh nghiệm) trước.
CHỨNG ĐẮC TỨ THIỀN
Này Đại vương, khi hoan hỷ và buồn bực (somanassadomanassa) không còn, cùng với sự biến mất của cảm giác dễ chịu và khó chịu nơi thân trước đó (sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva)14 Somanassa bị loại trừ trong giai đoạn cận định của tầng thiền thứ tư (chuẩn bị đắc tầng thiền thứ tư). Dukkha, domanassa và sukha bị loại trừ trong giai đoạn cận định của tầng thiền thứ nhất, hai và ba., tỳ khưu chứng đắc và an trú trong tầng thiền thứ tư với chánh niệm thuần khiết phát sinh do tâm xả.15 Bhikkhu sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva, somanassadomanassānaṃ atthaṅgamā adukkhamasukhaṃ upekkhāsatipārisuddhiṃ catutthaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. Với tâm trong sạch và tỏa sáng, vị ấy ngồi với thân ngập tràn ánh sáng, đến mức chẳng có nơi nào trong thân không ngập tràn ánh sáng.
Này Đại vương, giả sử có người ngồi phủ tấm vải trắng từ đầu xuống chân để không có chỗ nào nơi thân không được tấm vải trắng bao phủ. Tương tự như thế, tỳ khưu ngồi với thân ngập tràn ánh sáng, đến mức chẳng có nơi nào trong thân không ngập tràn ánh sáng. Này Đại vương, đây cũng là kết quả, lợi lạc của đời xuất gia mà tỳ khưu tự mình kinh nghiệm hiểu rõ, vốn tuyệt vời và cao thượng hơn trước.
HIỂU BIẾT THÂN-TÂM QUA MINH SÁT
Khi tâm thanh tịnh (parisuddha), trong sáng (pariyodāta), không chút bợn nhơ (anaṅgaṇa), không còn ô nhiễm (vigatūpakkilesa), nhu nhuyến dễ uốn nắn (mudu), dễ sử dụng (kammaniya), vững vàng (ṭhita) và không chao động (āneñjappatta), vị ấy hướng tâm đến để thấy biết rõ, hiểu rằng: “Đây là thân của tôi, sắc thân này gồm bốn yếu tố, có nguồn gốc từ cha mẹ, lớn lên nhờ gạo và lúa mì, có bản chất đổi thay, cần được xoa bóp (aniccucchādana-parimaddana) sẽ bị hư hoại và phân hủy. Và đây là tâm thức của tôi nương vào thân này, liên kết với thân này.”16 Người này hiểu qua Minh Sát rằng: tứ đại hợp thành “thân” và chúng đổi thay; tại đó, tâm thức sinh khởi.
Này Đại vương, giả sử có một viên ngọc quý beryl tinh khiết, có tám cạnh, được cắt gọt hoàn hảo, trong suốt, lấp lánh, không tỳ vết, có phẩm chất cao, được xâu bằng sợi dây màu xanh, vàng, đỏ, trắng hay nâu. Một người có đôi mắt tinh tường cầm viên ngọc này trên tay và hiểu rằng: “Đây là viên ngọc quý beryl tinh khiết, có tám cạnh, được cắt gọt hoàn hảo, trong suốt, lấp lánh, không tỳ vết, có phẩm chất cao, được xâu bằng sợi dây màu xanh, vàng, đỏ, trắng hay nâu.”
Tương tự như thế, khi tâm tỳ khưu thanh tịnh, trong sáng, không chút bợn nhơ, không còn ô nhiễm, nhu nhuyến dễ uốn nắn, dễ sử dụng, vững vàng và không dao động; vị ấy hướng tâm đến để thấy biết rõ, hiểu rằng: “Đây là thân của tôi, sắc thân này gồm bốn yếu tố, có nguồn gốc từ cha mẹ, lớn lên nhờ gạo và lúa mì, có bản chất đổi thay, cần được xoa bóp, hư hoại và phân hủy. Và đây là tâm thức của tôi nương vào thân này, liên kết với thân này.” Này Đại vương, đây cũng là kết quả, lợi lạc của đời xuất gia mà tỳ khưu tự mình kinh nghiệm hiểu rõ, vốn tuyệt vời và cao thượng hơn trước.
THẦN THÔNG BIẾN HÓA RA THÂN
Khi tâm an trụ tập trung, trở nên trong sạch, không chút bợn nhơ, không còn ô nhiễm, dễ uốn nắn, dễ sử dụng, vững vàng và không chao động, vị ấy biến hóa ra thân khác. Từ thân (của mình), vị ấy biến ra những thân khác17 “Với ước muốn nơi tâm, vị ấy biến ra thân khác” (mano mayā kāya iddhiñāṇa) làm rõ rằng: thân không là linh hồn; lúc này, thân do biến hóa (iddhiñāṇa) là sản phẩm của tâm (mano mayā kāya). với đầy đủ các chi chẳng thiếu bất cứ cái nào.
Này Đại vương, giả sử có người rút ruột rơm ra khỏi cọng rơm và nghĩ thầm: “Đây là ruột rơm và đây là cọng rơm. Ruột rơm khác với cọng rơm, nhưng được rút ra từ chính cọng rơm.” Hoặc có người rút kiếm ra khỏi vỏ và nghĩ rằng: “Đây là thanh kiếm và đây là vỏ kiếm. Thanh kiếm khác với vỏ kiếm, nhưng nó được rút ra từ chính vỏ kiếm.” Hoặc có người lột con rắn ra khỏi da và nghĩ rằng: “Đây là con rắn và đây là da rắn. Con rắn khác với da rắn nhưng con rắn được lột ra từ chính da rắn đó.”
Tương tự như thế, khi tâm tỳ khưu thanh tịnh, trong sáng, không chút bợn nhơ, không còn ô nhiễm, nhu nhuyến dễ uốn nắn, dễ sử dụng, vững vàng và không dao động; vị ấy biến hóa ra thân. Từ thân (của mình), vị ấy biến ra những thân khác với đầy đủ các chi chẳng thiếu cái nào. Này Đại vương, đây cũng là kết quả, lợi lạc của đời xuất gia mà tỳ khưu tự mình kinh nghiệm hiểu rõ, vốn tuyệt vời và cao thượng hơn trước.
MỘT SỐ THẦN THÔNG KHÁC18 iddhividha ñāṇa
Khi tâm thanh tịnh, trong sáng, không chút bợn nhơ, không còn ô nhiễm, dễ uốn nắn, dễ sử dụng, vững vàng và không dao động; vị ấy phát triển thần thông. Vị ấy phát triển nhiều loại thần thông: từ một thân biến ra vô số thân như mình (phân thân) và từ vô số thân như mình vị ấy biến lại thành một; đi xuyên qua tường, thành vách, núi non như thể đi qua chỗ trống trải (không vật cản); lặn trong đất (độn thổ) như thể lặn trong nước; đi trên nước như thể đi trên đất; ngồi xếp bằng di chuyển trong không trung như thể chim bay; dùng tay sờ mặt trăng hay mặt trời vốn là những thực thể vĩ đại và đầy uy lực; và vị ấy có thể vươn thân đến tận cõi Phạm thiên.
Người thợ gốm hay người thợ phụ lành nghề của ông chuẩn bị đất sét để nặn bất cứ bình đất sét nào theo kiểu họ muốn. Hoặc người thợ chạm khắc ngà voi hay người thợ phụ lành nghề của ông có thể chạm khắc ngà voi theo bất cứ kiểu nào họ thích. Hoặc người thợ bạc hay người thợ phụ lành nghề của ông có thể luyện bạc thành bất cứ món trang sức nào họ thích.
Tương tự như thế, khi tâm thanh tịnh, trong sáng, không chút bợn nhơ, không còn ô nhiễm, dễ uốn nắn, dễ sử dụng, vững vàng và không dao động; vị ấy phát triển nhiều loại thần thông như thế. Này Đại vương, đây cũng là kết quả, lợi lạc của đời xuất gia mà tỳ khưu tự mình kinh nghiệm hiểu rõ, vốn tuyệt vời và cao thượng hơn trước.
THIÊN NHĨ THÔNG19 dibbasota ñāṇa
Khi tâm thanh tịnh, trong sáng, không chút bợn nhơ, không còn ô nhiễm, dễ uốn nắn, dễ sử dụng, vững vàng và không dao động; vị ấy phát triển Thiên Nhĩ thông. Với thiên nhĩ trong sạch và vượt xa (khả năng của loài người), vị ấy có thể nghe được âm thanh của loài người và chư thiên gần xa.
Này Đại vương, giả sử có người đi dọc theo đường cao tốc có thể nghe âm thanh của trống, còi, chập chả, trống cơm… và nghĩ: “Đây là tiếng trống, đây là tiếng còi, đây là tiếng chập chả, đây là tiếng trống cơm…” Tương tự như thế, khi tâm tỳ khưu thanh tịnh, trong sáng, không chút bợn nhơ, không còn ô nhiễm, dễ uốn nắn, dễ sử dụng, vững vàng và không dao động; vị ấy phát triển thiên nhĩ trong sạch và vượt xa (khả năng của loài người), vị ấy có thể nghe được âm thanh của loài người và chư thiên gần xa. Này Đại vương, đây cũng là kết quả, lợi lạc của đời xuất gia mà tỳ khưu tự mình kinh nghiệm hiểu rõ, vốn tuyệt vời và cao thượng hơn trước.
THA TÂM THÔNG20 cetopariya ñāṇa
Khi tâm thanh tịnh, trong sáng, không chút bợn nhơ, không còn ô nhiễm, dễ uốn nắn, dễ sử dụng, vững vàng và không dao động; vị ấy phát triển Tha Tâm thông có khả năng biết được tâm của mình, của loài người và các chúng sinh khác (đang nghĩ gì). Vị ấy hiểu:
tâm có tham ái là tâm có tham ái (đúng như nó là vậy),
tâm vắng mặt tham ái là tâm vắng mặt tham ái,
tâm có sân hận là tâm có sân hận,
tâm vắng mặt sân hận là tâm vắng mặt sân hận,
tâm có vô minh21 Nơi đây, vô minh là không hiểu hoặc hiểu sai Tứ Diệu Đế. là tâm có vô minh,
tâm vắng mặt vô minh là tâm vắng mặt vô minh,
tâm co rút thụ động22 Tâm uể oải buồn ngủ là tâm co rút thụ động
tâm vọng động là tâm vọng động
tâm đẹp23 Tâm nhất thiền, nhị thiền… là tâm đẹp
tâm không cao quý24 Không chứng đắc thiền Định là tâm không cao quý
tâm cao thượng là tâm cao thượng
tâm không cao thượng là tâm không cao thượng
tâm định tĩnh là tâm định tĩnh
tâm không định tĩnh là tâm không định tĩnh
tâm giải thoát là tâm là tâm giải thoát
tâm không giải thoát là tâm không giải thoát
Này Đại vương, giả sử có một chàng trai hay cô gái thích làm đẹp với đồ trang sức, ngắm nghía khuôn mặt mình qua một tấm gương hay một thau nước trong. Người này nhận ra mình có nốt ruồi nếu có nốt ruồi, nhận ra mình không có nốt ruồi nếu không có nốt ruồi. Tương tự như thế, khi tâm tỳ khưu thanh tịnh, trong sáng, không chút bợn nhơ, không còn ô nhiễm, dễ uốn nắn, dễ sử dụng, vững vàng và không dao động; vị ấy hiểu: tâm có tham ái là tâm có tham ái, tâm vắng mặt tham ái là tâm vắng mặt tham ái… (đúng như nó là vậy). Này Đại vương, đây cũng là kết quả, lợi lạc của đời xuất gia mà tỳ khưu tự mình kinh nghiệm hiểu rõ, vốn tuyệt vời và cao thượng hơn trước.
TÚC MẠNG MINH25 pubbenivāsānussati ñāṇa
Với tâm thanh tịnh, trong sáng, không chút bợn nhơ, không còn ô nhiễm, dễ uốn nắn, dễ sử dụng, vững vàng và không dao động; vị ấy phát triển Túc Mạng minh thấy nhớ các kiếp quá khứ của mình. Vị ấy quán xét các kiếp quá khứ: 1 kiếp, 2 kiếp, 3 kiếp, 4 kiếp, 5 kiếp, 10, 20, 30, 40, 50, 100, 1.000, 100.000 kiếp, cho đến nhiều đại kiếp thế giới… biết rằng: “Tại đó vào lúc đó, tôi tên…, thuộc dòng tộc…, có hình dáng…, ăn thức ăn…, kinh nghiệm những vui buồn như thế nào và chết ra sao. Sau khi qua đời, tôi lại sinh ra tại… Tại đó, tôi tên…, thuộc dòng tộc…, có hình dáng…, ăn thức ăn…, kinh nghiệm những vui buồn như thế nào và chết ra sao… Và rồi tôi sinh ra nơi đây.” Vị ấy thấy và nhớ vô số kiếp quá khứ của mình chi tiết như thế.
Như một người rời khỏi làng của mình, đi qua làng khác và sau đó, trở lại làng của mình; người này có thể nhớ nghĩ rằng: “Tôi rời làng và đến làng đó. Tại làng đó, tôi đứng như thế này, tôi ngồi như thế này, tôi nói như thế này, tôi giữ yên lặng như thế này. Và từ làng đó, tôi trở lại làng của tôi.” Tương tự như thế, tỳ khưu thấy nhớ vô số kiếp quá khứ của mình chi tiết như thế. Này Đại vương, đây cũng là kết quả, lợi lạc của đời xuất gia mà tỳ khưu tự mình kinh nghiệm hiểu rõ, vốn tuyệt vời và cao thượng hơn trước.
THIÊN NHÃN MINH26 dibbacakkhu ñāṇa
Với tâm thanh tịnh, trong sáng, không chút bợn nhơ, không còn ô nhiễm, dễ uốn nắn, dễ sử dụng, vững vàng và không dao động; vị ấy phát triển Thiên Nhãn minh, thấy các chúng sinh chết đi và sinh về đâu. Bằng thiên nhãn trong sạch và vượt xa loài người, vị ấy thấy các chúng sinh qua đời rồi tái sinh, và (phẩm chất cuộc sống của họ) thấp hèn hay cao thượng, đẹp đẽ hay xấu xí, thuận lợi may mắn hay gian truân trắc trở là do nghiệp mà họ đã tạo.
Một số chúng sinh có suy nghĩ, lời nói và hành động độc ác xấu xa, khinh rẻ Thánh nhân, chấp chặt vào tà kiến sai lầm và làm điều sai quấy do chấp chặt vào tà kiến sai lầm đó. Khi thân hoại mạng chung, khi mất đi, những chúng sinh này tái sinh vào cõi khổ, vào cảnh giới thấp kém, vào địa ngục. Ngược lại, có những chúng sinh có suy nghĩ, lời nói và hành động tốt đẹp thiện lành, không khinh rẻ Thánh nhân, có được chánh kiến hiểu biết đúng đắn và làm điều thiện lành do có được chánh kiến hiểu biết đúng đắn đó. Khi thân hoại mạng chung, khi mất đi, những chúng sinh này tái sinh vào cõi hữu phúc, vào cảnh giới tốt đẹp, vào cảnh giới chư thiên.
Như thể đứng từ một tòa nhà trên cao nhìn xuống, một người có thể thấy rõ người ta liên tục tới lui, vào ra ở ngôi nhà đối diện.27 Dựa theo bản tiếng Miến, giải thích của thiền sư Jatila. Tương tự như thế, với Thiên Nhãn trong sạch và vượt xa loài người, vị ấy thấy các chúng sinh qua đời rồi tái sinh, hiểu rõ (phẩm chất cuộc sống của họ) thấp hèn hay cao thượng, đẹp đẽ hay xấu xí, thuận lợi may mắn hay gian truân trắc trở là do nghiệp mà họ đã tạo. Này Đại vương, đây cũng là kết quả, lợi lạc của đời xuất gia mà tỳ khưu tự mình kinh nghiệm hiểu rõ, vốn tuyệt vời và cao thượng hơn trước.
LẬU TẬN MINH28 āsavakkhaya ñāṇa
Với tâm thanh tịnh, trong sáng, không chút bợn nhơ, không còn ô nhiễm, dễ uốn nắn, dễ sử dụng, vững vàng và không dao động; vị ấy phát triển trí tuệ hiểu rõ mọi ô nhiễm bị diệt tận. Vị ấy hiểu đúng như nó là vậy rằng: “Đây là sự thật về khổ… nguyên nhân làm phát sinh khổ… sự chấm dứt khổ… và con đường đưa đến sự chấm dứt khổ. Đây là những ô nhiễm… nguyên nhân làm phát sinh ô nhiễm… sự chấm dứt, không còn ô nhiễm… và đây là con đường đưa đến sự chấm dứt mọi ô nhiễm.”
Giả sử có một hồ nơi vực núi chứa đầy nước, và nước nơi đó trong veo, không gợn sóng. Đứng trên bờ, một người có đôi mắt sáng có thể nhìn thấy rõ những con trai, hến, cát, sỏi và những đàn cá đang bơi lượn hay đứng yên bên dưới. Tương tự như thế, vị ấy thấy và hiểu đúng đắn rằng: “Đây là sự thật về khổ nguyên nhân làm phát sinh khổ… sự chấm dứt khổ… và con đường đưa đến sự chấm dứt khổ. Đây là những ô nhiễm… nguyên nhân làm phát sinh ô nhiễm… sự chấm dứt, không còn ô nhiễm… và đây là con đường đưa đến sự chấm dứt mọi ô nhiễm.”
Khi thấy và hiểu như thế, tâm vị ấy hoàn toàn thoát khỏi tham ái, hoàn toàn thoát khỏi mọi ô nhiễm đưa đến tái sinh và hoàn toàn thoát khỏi vô minh. Khi tâm được giải thoát, trí tuệ giải thoát phát sinh và vị ấy hiểu rõ: “Tái sinh chấm dứt. Cuộc sống thánh thiện đã trọn thành. Điều cần làm nay đã làm xong. Không còn trở lại trạng thái này (tái sinh) thêm nữa.”
Này Đại vương, đây cũng là kết quả, lợi lạc của đời xuất gia mà tỳ khưu tự mình kinh nghiệm hiểu rõ, vốn tuyệt vời và cao thượng hơn trước.
VUA AJĀTASATTU TUYÊN BỐ TRỞ THÀNH PHẬT TỬ
Khi Đức Phật dứt lời, vua Ajātasattu thốt lên:
– Tuyệt vời thay, thưa Thế Tôn! Tuyệt vời thay, thưa Thế Tôn! Như thể Ngài đặt lại cái bị úp ngược, chỉ đường cho kẻ lạc lối, soi sáng đêm đen để những ai có mắt có thể nhỉn thấy. Chánh pháp đã được Thế Tôn giảng giải rõ ràng bằng nhiều cách. Con xin được quy y Phật, quy y Pháp và quy y Tăng. Mong Ngài nhận con làm đệ tử kể từ nay cho đến trọn đời. Thưa Thế Tôn, một sai lầm đã khống chế con. Vì ngu dốt, vô minh, và bất thiện xấu xa, con đã giết phụ vương con – một vì vua chánh trực, để đoạt ngôi. Mong Thế Tôn chứng giám cho sự nhận tội của con để con sửa chữa và không tái phạm về sau.
– Đúng vậy, này Đại vương, sai lầm đã khống chế ông. Vì ngu dốt, vô minh, và bất thiện xấu xa, ông đã giết cha – một vì vua chánh trực, để đoạt ngôi. Nhưng vì ông đã nhận tội và chịu sửa sai thuận theo Chánh pháp, ta chấp thuận sự sám hối này. Bởi lẽ trong giới luật của bậc Thánh nhân, bất cứ ai lầm lỗi thấy sai trái của mình, chịu sửa sai thuận theo chánh pháp và không tái phạm về sau, người đó sẽ được tăng trưởng.
– Thưa Thế Tôn, giờ đây chúng con xin phép đi vì có nhiều việc cần làm.
– Đại vương hãy làm những gì nài cho là thích hợp.
Vua hoan hỷ tiếp nhận lời Phật dạy, rồi đứng dậy đảnh lễ, đi vòng quanh Đức Phật và lui ra. Khi vua vừa đi khỏi, Đức Phật nói với các tỳ khưu:
– Này các tỳ khưu, vị vua này đã tự hại mình, tự gây khổ cho chính mình. Nếu vua đã không phạm tội giết cha – vốn là một vì vua chánh trực, thì tại nơi này vua đã chiêm nghiệm pháp nhãn sáng ngời, không lấm bụi dơ.
Đức Phật đã nói thế và các tỳ khưu hoan hỷ vui mừng với những gì Ngài dạy.
GIẢI THÍCH:
Ý NGHĨA CỦA UPEKKHĀ (XẢ) TRONG KINH ĐIỂN29 Xem thêm Ba La Mật tâm Xả để hiểu trọn vẹn các thể loại upekkhā.
Upekkhā có những ý nghĩa khác nhau tùy từng trường hợp
Về cảm thọ: Khi cảm thọ phát sinh, nếu không phải là lạc (sukha) hay khổ (dukkha), thì nó là xả upekkhā.
Về sự khước từ: Có loại upekkhā liên quan đến xuất gia, buông bỏ nekkhama. Người xuất gia xa rời hạnh phúc trần gian, gia đình, thân quyến bạn bè, từ bỏ tiền tài, danh vọng, địa vị được gọi là người thực hành hạnh khước từ nekkhama upekkhā.
Về tâm sở tịnh quang/đẹp: Upekkhā đồng nghĩa với tatramajjhattatā (tatra: ở đó + majjhattatā: quân bình) có nghĩa là tâm quân bình. Theo Vi Diệu Pháp, đây được gọi là là tâm quân bình vì nó nhìn nhận đối tượng một cách vô tư, không thiên vị, giống như một người đánh xe khéo léo điều khiển hai con ngựa sao cho chúng chạy song song đều đặn. Khi so sánh với tâm bi mẫn (karunā) và tâm hoan hỷ vui mừng với thành công của người khác (muditā), tâm quân bình này luôn đứng giữa. Trong các tầng thiền Định, loại tâm quân bình này luôn có mặt, nhưng biểu hiện rõ nhất từ tầng thiền thứ ba trở lên. Trong thiền Minh Sát, loại tâm xả này khi lớn mạnh sẽ trở thành Xả Giác Chi (thuộc Thất Giác Chi), một trong bảy yếu tố đưa đến giác ngộ. Khi hành thiền Minh Sát đạt đến tuệ Xả Hành, tâm xả này thường xuyên có mặt và biểu hiện rõ ràng qua việc thiền sinh không quá vui mừng hay buồn bã khi được khen hay bị chê.
Sự khác biệt trong các tầng thiền: Trong tầng thiền Định thứ ba, thọ lạc sukha vẫn có mặt. Người chứng đắc và an trú trong tầng thiền Định thứ ba có được tâm xả upekkhā (hay nói cách khác là “tâm quân bình”) và đồng thời kinh nghiệm cảm giác an lạc sukha. Trong tầng thiền Định thứ tư, thọ lạc không còn và thọ xả upekkhā phát sinh. Người chứng đắc và an trú trong tầng thiền Định thứ tư có được tâm xả upekkhā và kinh nghiệm thọ xả upekkhā.
Theo Thanh TỊnh Đạo (Visuddhimagga): Kadā pana nesaṃ pahānaṃ hotīti. Catunnaṃ jhānānaṃ upacārakkhaṇe. Somanassañhi catutthajjhānassa upacārakkhaṇeyeva pahīyati. Dukkhadomanassasukhāni paṭhamadutiyatatiyajjhānānaṃ upacārakkhaṇesu. Nghĩa là: Somanassa (sự hoan hỷ) bị loại trừ trong giai đoạn cận định của tầng thiền thứ tư (chuẩn bị đắc tầng thiền thứ tư). Dukkha (khổ thân), domanassa (khổ tâm/ưu) và sukha (lạc) bị loại trừ trong giai đoạn cận định của tầng thiền thứ nhất, thứ hai và thứ ba.
GIẢI THÍCH THÊM VỀ CÁC TẦNG THIỀN ĐỊNH
(The Jhānas in Theravada Buddhist Meditation by Henepola Gunaratana)
Tầng thiền thứ hai: Trong tầng thiền thứ nhất, sự sinh khởi của Tầm và Tứ làm tâm chao động như nước lăn tăn gợn sóng.30 Vism. 157; PP.163 Ở tầng thiền thứ hai, với sự vắng mặt của Tầm và Tứ, tâm trở nên tĩnh lặng hơn cho nên nói “nội tâm tĩnh lặng” phát sinh trong tầng thiền này. Đây cũng là lý do để nói rằng Hỷ và Lạc ở tầng thiền này “phát sinh do tâm định tĩnh”. Theo Visudhimagga: “Sự định tâm này đáng được gọi là ‘định tâm’ vì sự yên tĩnh không khuấy động và sâu lắng do Tầm và Tứ vắng mặt.”31 Vism.158; PP.164
Tầng thiền thứ ba: Khi đã chứng đắc, an trú và vào ra tầng thiền thứ hai thuần thục, người này hay biết, nhận ra khiếm khuyết của Hỷ vốn làm cho định tâm không vững vàng. Do vậy, người này phát triển sự buông bỏ (không còn ham thích) Hỷ và mong chờ trạng thái tĩnh lặng sâu lắng hơn của tầng thiền thứ ba. Khi Hỷ không còn, người này chứng đắc tầng thiền thứ ba, an trú trong chánh niệm, tỉnh giác và buông bỏ. Cho nên nói: “Vị ấy sống an lạc, chánh niệm và (phát triển) sự buông bỏ”.
Trong tầng thiền này, upekkhako được nhắc đến hai lần. Chữ upekkhā có rất nhiều nghĩa, thường được hiểu là thọ xả (không phải hỷ lạc cũng không phải khổ) hay tâm cân bằng, quân bình (tatramajjhattata)32 Vism.161; PP.167. Upekkhā trong tầng thiền này có nghĩa là loại tâm cân bằng, quân bình chứ không phải thọ xả. Dù thọ xả upekkhā và tâm quân bình upekkhā thường sinh khởi chung, nhưng chúng cũng có thể phát sinh riêng rẽ. Trong tầng thiền này, upekkhā (tâm quân bình) đồng sinh khởi với Hỷ và Lạc.
Nơi đây, chánh niệm là nhớ lại đề mục thiền, là giữ đừng để cho quang tướng nimitta mất và tỉnh giác là không mù mờ, là chăm chú theo dõi và giữ quang tướng nimitta trong tâm. Thực ra, chánh niệm và tỉnh giác đã sinh khởi ở tầng thiền đầu tiên, nhưng biểu hiện rõ ràng ở tầng thiền này. Theo Chú giải Dhammasaṇgaṇī: “Như con nghé bị tách khỏi mẹ và không có ai canh gác sẽ lập tức quay về bú mẹ, Lạc có khuynh hướng liên kết với Hỷ nếu chánh niệm và tỉnh giác không có mặt canh gác.”33 Dhs. A.219 Chánh niệm và tỉnh giác sinh khởi nhằm duy trì tầng thiền này.
Tầng thiền thứ tư: Khi đã chứng đắc, an trú và vào ra tầng thiền thứ ba thuần thục, người này hay biết, nhận ra khiếm khuyết của Lạc vốn làm cho tham thích, dính mắc phát sinh. Nghĩ rằng khi thọ xả và Nhất Tâm phát sinh với nhau, tâm sẽ thật sự tĩnh lặng và không bị chao động lui sụt, người này ra sức gia tăng định nhằm loại bỏ Lạc.
“Khi hoan hỷ và buồn bực (somanassadomanassa) không còn, cùng với sự biến mất của cảm giác dễ chịu và khó chịu nơi thân trước đó (sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva), tỳ khưu chứng đắc và an trú trong tầng thiền thứ tư với chánh niệm thuần khiết phát sinh do tâm xả.”34 M.i,182; Vbh.245
Nói về chánh niệm thuần khiết phát sinh do tâm xả (upekkhasatiparisuddhi), Chú giải Vibhaṅga35 Vbh. 261 mô tả: “Chánh niệm này sáng sủa, trong sạch, thuần khiết bởi tâm xả” và theo Visuddhimagga36 Vism.167; PP.174: “Vì chánh niệm phát sinh trong tầng thiền này rất thuần khiết, sự thuần khiết này do ảnh hưởng của tâm xả chứ không do cái gì khác.” Vậy loại upekkhā làm cho chánh niệm trở nên thuần khiết không thể là thọ xả upekkhā, mà là loại tâm quân bình upekkhā, một loại tâm quân bình ngoại hạng không bị thấm nhiễm bởi tham ái hay sân hận. Dù chánh niệm cùng với tâm quân bình đã có mặt ở các tầng thiền thấp hơn, nhưng loại chánh niệm đó không thể gọi là “thuần khiết phát sinh do tâm xả”, vì tâm xả lúc đó vẫn còn bị các pháp đối lập áp đảo và không sinh khởi với thọ xả. Trăng lưỡi liềm có mặt vào ban ngày bị lấn át bởi bầu trời trong xanh và ánh sáng mặt trời, nhưng trăng thật sự tỏa sáng vào ban đêm. Ví như trăng lưỡi liềm tỏa sáng vào ban đêm, khi tâm xả sinh khởi cùng với thọ xả, nó làm cho chánh niệm cùng các pháp đồng sinh khởi trở nên thuần khiết.37 Vism. 169; PP.175
BỐI CẢNH VỀ VUA AJĀTASATTU (A XÀ THẾ):
Nguồn gốc cái tên: Có nguồn cho rằng đây chỉ là biệt danh của vị vua này, vì ajāta nghĩa là chưa sinh và sattu là kẻ thù. Chuyện kể rằng khi mang thai, hoàng hậu bỗng thèm một chút máu của chồng và vua Bimbisāra (vương quốc Magadha) đã cắt chút ngón tay của mình cho hoàng hậu nút. Triều đình tiên đoán rằng đây là hiểm họa đứa trẻ này sinh ra sẽ giết vua, nhưng vua nhất định không ra lệnh phá bỏ bào thai ấy.
Âm mưu chiếm ngôi: Vua Bimbisāra là Phật tử thuần thành, là bậc Thánh Tu Đà Hườn. Nhưng Ajātasattu đã lên kế hoạch đoạt ngai vàng dưới ảnh hưởng của Devadatta (một tỳ khưu trong tăng đoàn, là anh em họ của Đức Phật, từng xin Đức Phật trông coi Tăng đoàn nhưng bị từ chối). Ajātasattu nhốt cha trong tù và bỏ đói với mong muốn cha sẽ chết.
Sự hối hận muộn màng: Sau khi Ajātasattu có con trai (tên Udāyibhadda), hoàng hậu kể lại tình yêu thương vô bờ bến của Bimbisāra dành cho con trai mình khi còn nhỏ. [Khi còn nhỏ, Ajātasattu bị bưng mủ ở ngón tay và vua Bimbisāra đã ngậm ngón tay mưng mủ đó trong miệng dù lúc đó đang xử án. (Đang thiết triều nên không thể nhổ ra, vua đã nuốt dịch mủ vỡ ra vào bụng.) Vô cùng hối hận, Ajātasattu vội vã chạy đến nhà tù với một cây rìu để chặt đứt xiềng xích giải thoát cho cha. Nhưng vua Bimbisāra đã tự kết liễu đời mình (493 BCE) vì hiểu lầm rằng con đến để giết mình (e rằng con trai phạm trọng tội giết cha sẽ bị đày xuống địa ngục A Tỳ).
Chiến tranh với vương quốc Kosala: Vua Pasenadi (Ba Tư Nặc) rất tức giận Ajātasattu, vì hậu quả là Kosala devī (em gái vua Pasenadi) đã qua đời vì thương tiếc người chồng quá cố. Trước đó, Mahākosala – cha của vua Pasenadi, đã tặng ngôi làng giàu có Kāsī như của hồi môn và Ajātasattu vẫn tiếp tục hưởng nguồn thu nhập từ làng này sau cái chết của cha mẹ mình. Cảm thấy Ajātasattu không xứng đáng với khoản thừa kế này, vua Pasenadi đã đem quân đi giao chiến với người cháu Ajātasattu của mình để trừng phạt. Lần đầu thất bại, nhưng lần sau, vua Pasenadi thắng trận, bắt quân lính và bỏ tù Ajātasattu. Khi Ajātasattu đồng ý từ bỏ ngai vàng, vua trả tự do; và sau này, gả con gái mình là công chúa Vajirā cho Ajātasattu. Hai trận chiến này được ghi lại trong kinh Saṅgāma 1 và 2 (Saṁyutta Nikāya 3.14, 3.15).
Thời điểm gặp Đức Phật: Có lẽ Ajātasattu trở lại làm vua sau cái chết bi thảm của vua Pasenadi. Pasenadi và Đức Phật đều qua đời ở tuổi 80, nhưng Pasenadi mất trước. Nếu chi tiết này đúng, thì cuộc gặp gỡ hòa giải của Ajātasattu với Đức Phật, được ghi lại trong bài kinh này, hẳn phải diễn ra trong năm cuối cùng của Đức Phật.
Nghiệp báo: Vua Ajātasattu luôn lo sợ con trai giết mình cướp ngôi; và điều này đã diễn ra (461 BCE). Sau khi giết cha lên ngôi, vua Udāyibhadda về sau cũng bị con trai giết để cướp ngôi. Sau Udāyibhadda, bốn vị vua kế vị đều là những kẻ giết cha. Triều đại này kết thúc khi dân chúng Magadha (Ma Kiệt Đà) chán ghét nên phế truất vị vua cuối cùng và tôn phó vương Sisunāga lên làm vua.
Cơ hội giác ngộ: Vua Ajātasattu thú nhận với Đức Phật rằng việc giết cha là sai lầm. Trong đoạn cuối bài kinh này, Đức Phật nói rằng nếu không phạm tội giết cha, Ajātasattu đã có thể chứng đắc quả Tu Đà Hườn (Nhập lưu) ngay lúc đó. Lời thú tội của ông dường như đã giới hạn quả báo của nghiệp ác này chỉ trong kiếp hiện tại, nhờ đó ông vẫn có cơ hội giác ngộ trong một kiếp tương lai.
- 1Học thuyết này tin: luân hồi là tất nhiên và tự diễn tiến, nỗ lực là vô ích. ↩︎
- 2Biệt danh "Kesakambala" có nghĩa là "chiếc chăn bằng tóc," bởi ông thường mặc chiếc áo choàng dệt từ tóc người, được mô tả là thô ráp và rất khó chịu. ↩︎
- 3Học thuyết này tin rằng linh hồn là một thực thể trường tồn, không bao giờ chết. Việc chém giết chẳng qua chỉ là lưỡi kiếm luồn qua những khoảng không giữa các yếu tố vật chất mà thôi, do đó không tạo thành ác nghiệp. ↩︎
- 4Các vị này cho rằng có vô số sinh mạng nhỏ bé (vi khuẩn) ở trong nước. Do đó, việc tắm rửa, đi lại bên ngoài vào mùa mưa, hay không dùng vải lọc nước trước khi uống là hành động tạo sát nghiệp. ↩︎
- 5Gồm thực hành các hạnh: không tàn bạo, chân thật, không trộm cắp, không tình dục, không tham đắm dính mắc con người, nơi chốn hay vật dụng; tức là chủ trương ngừng tạo nghiệp mới. ↩︎
- 6Họ cho rằng sự kiên nhẫn tu tập, không bỏ cuộc trước vô vàn khó khăn và thực hành khổ hạnh (như nhịn ăn) sẽ giúp thiêu đốt ác nghiệp cũ, từ đó con người được thanh lọc hoàn toàn. ↩︎
- 7Anavajja sukhaṁ. Chú giải: “Vị ấy kinh nghiệm thân tâm an lạc, không có gì đáng chê trách phát sinh cùng các tâm sở không lo lắng, hỷ, lạc định do giới đức trong sạch…” (DA 1:183); “loại hạnh phúc không thấm đẫm ô nhiễm” (niddosa,sukha, MA 2:214 = AA 3:198). ↩︎
- 8Abyāseka sukhaṁ. Theo Chú giải:“Vị ấy kinh nghiệm loại hạnh phúc an lạc trong sạch phát sinh do có tâm thức cao hơn (adhicitta sukha), vốn không có ô nhiễm, dấy dơ, vì không có dấu vết ô nhiễm. Đây là hạnh phúc phát sinh do hành thiền và chánh niệm. ↩︎
- 9Vào đề mục thiền ↩︎
- 10vivicceva kāmehi. Kāmehi-vui thích trần gian gồm: đối tượng làm phát sinh tham ái (vatthu kāma) và tham ái (ô nhiễm kilesa kāma). ↩︎
- 11Bhikkhu pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati sato sampajāno, sukhañca kāyena paṭisaṃvedeti. ↩︎
- 12taṃ ariyā ācikkhanti – ‘upekkhako satimā sukhavihārī’ti. ↩︎
- 13So imameva kāyaṃ nippītikena sukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati, nāssa kiñci sabbāvato kāyassa nippītikena sukhena apphuṭaṃ hoti. ↩︎
- 14Somanassa bị loại trừ trong giai đoạn cận định của tầng thiền thứ tư (chuẩn bị đắc tầng thiền thứ tư). Dukkha, domanassa và sukha bị loại trừ trong giai đoạn cận định của tầng thiền thứ nhất, hai và ba. ↩︎
- 15Bhikkhu sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva, somanassadomanassānaṃ atthaṅgamā adukkhamasukhaṃ upekkhāsatipārisuddhiṃ catutthaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. ↩︎
- 16Người này hiểu qua Minh Sát rằng: tứ đại hợp thành “thân” và chúng đổi thay; tại đó, tâm thức sinh khởi. ↩︎
- 17“Với ước muốn nơi tâm, vị ấy biến ra thân khác” (mano mayā kāya iddhiñāṇa) làm rõ rằng: thân không là linh hồn; lúc này, thân do biến hóa (iddhiñāṇa) là sản phẩm của tâm (mano mayā kāya). ↩︎
- 18iddhividha ñāṇa ↩︎
- 19dibbasota ñāṇa ↩︎
- 20cetopariya ñāṇa ↩︎
- 21Nơi đây, vô minh là không hiểu hoặc hiểu sai Tứ Diệu Đế. ↩︎
- 22Tâm uể oải buồn ngủ ↩︎
- 23Tâm nhất thiền, nhị thiền… ↩︎
- 24Không chứng đắc thiền Định ↩︎
- 25pubbenivāsānussati ñāṇa ↩︎
- 26dibbacakkhu ñāṇa ↩︎
- 27Dựa theo bản tiếng Miến, giải thích của thiền sư Jatila. ↩︎
- 28āsavakkhaya ñāṇa ↩︎
- 29Xem thêm Ba La Mật tâm Xả để hiểu trọn vẹn các thể loại upekkhā. ↩︎
- 30Vism. 157; PP.163 ↩︎
- 31Vism.158; PP.164 ↩︎
- 32Vism.161; PP.167 ↩︎
- 33Dhs. A.219 ↩︎
- 34M.i,182; Vbh.245 ↩︎
- 35Vbh. 261 ↩︎
- 36Vism.167; PP.174 ↩︎
- 37Vism. 169; PP.175 ↩︎